Đầu tư cho khoa học cơ bản - đặt nền móng cho năng lực tự chủ quốc gia

Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Phát biểu tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số diễn ra ngày 25/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ những “điểm nghẽn" lớn đang cản trở sự phát triển của khoa học cơ bản Việt Nam thời gian qua; đồng thời yêu cầu phải xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa xử lý các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Điểm nghẽn khiến "nghiên cứu trở thành nghề phụ"

Trên thực tế, nhiều lĩnh vực như toán học, vật lý, khoa học vật liệu hay công nghệ lượng tử, các nhà khoa học Việt Nam đã có công bố quốc tế đáng chú ý, tham gia các mạng lưới nghiên cứu lớn và tạo dấu ấn đậm nét trong cộng đồng khoa học quốc tế. Từ những năm 1960, 1970 của thế kỷ 20 đến những năm gần đây, rất nhiều nhà khoa học đã được vang danh trên thế giới. Ở lĩnh vực toán học là Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Thiêm, Giáo sư Hoàng Tụy; lĩnh vực Vật lý là Giáo sư Ngụy Như Kon Tum, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Giáo sư Lê Văn Hiệu...

Nhiều nhân tài là vậy nhưng vì sao năng lực học thuật ấy vẫn chưa chuyển hóa mạnh mẽ thành năng lực công nghệ quốc gia?

Theo đánh giá của Theo Giáo sư, Tiến sỹ Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học, người vừa nhận Giải thưởng Humboldt của Quỹ Alexander von Humboldt (Cộng hòa Liên bang Đức), nghiên cứu cơ bản không có đóng góp trực tiếp cho kinh tế-xã hội, tạo ra sản phẩm. Đóng góp của nghiên cứu cơ bản là gián tiếp nhưng nó góp phần vào đảm bảo sự bền vững của phát triển, đặc biệt khi nền kinh tế đã phát triển tới một mức độ cao về khoa học và công nghệ. Mức độ phát triển càng cao, nhu cầu về sự đóng góp của nghiên cứu cơ bản càng lớn.

Nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam được xây dựng từ khá sớm, đặc biệt trong các lĩnh vực toán học và vật lý nhưng trong nhiều thập niên, quá trình phát triển diễn ra trong điều kiện thiếu đồng bộ. Do ảnh hưởng của chiến tranh, cấm vận và hạn chế về nền tảng công nghệ nên trong một thời gian dài, đội ngũ nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam phát triển trong trạng thái phân tán, thiếu liên kết với công nghệ và công nghiệp. Nhiều lĩnh vực có lực lượng nghiên cứu tương đối tốt nhưng lại không hình thành được hệ sinh thái để chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành công nghệ hay sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Mặc dù vậy, nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam vẫn có những đóng góp âm thầm nhưng quan trọng, dù ít được nhắc tới, đó là đóng góp vào việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ. Điều này phần nào lý giải thực tế, Việt Nam có nhiều nhà khoa học giỏi, có những công trình đạt chuẩn quốc tế, nhưng lại chưa có nhiều công nghệ lõi mang dấu ấn nghiên cứu trong nước.

Đến nay, nghiên cứu khoa học cơ bản của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập và chưa tương xứng với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, chưa hình thành được một hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản quốc gia mạnh, ổn định, có chiều sâu và có khả năng tích luỹ dài hạn.

Nhìn nhận từ Giáo sư Phùng Hồ Hải, Việt Nam không có truyền thống lâu đời về nghiên cứu khoa học. Về cơ bản, những nghiên cứu đầu tiên chỉ được thực hiện từ sau năm 1954. Điều này ảnh hưởng đến tính chuyên nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Yếu tố khách quan khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính chuyên nghiệp của các nhà khoa học Việt Nam chính là chế độ đãi ngộ. Do được đãi ngộ thấp, các nhà khoa học không thể đầu tư toàn bộ thời gian cho nghiên cứu của mình. Họ phải làm nhiều công việc cùng một lúc để đáp ứng được nhu cầu cuộc sống. Trong nhiều trường hợp, nghiên cứu trở thành nghề phụ của nhà nghiên cứu.

Đó là một thực tế khá phổ biến hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu trẻ, sau khi được đào tạo bài bản ở nước ngoài, gặp khó khăn khi trở về nước bởi chênh lệch lớn về điều kiện làm việc, thu nhập, cơ sở vật chất và môi trường học thuật. Trong khi đó, việc quản lý hoạt động nghiên cứu vẫn còn chịu ảnh hưởng khá nặng của tư duy hành chính. Không ít nhà khoa học cho rằng họ phải dành quá nhiều thời gian cho các thủ tục tài chính, hồ sơ, thanh quyết toán thay vì tập trung cho chuyên môn.

Thay đổi cách tiếp cận đối với khoa học

Nhận thức sâu sắc nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu rõ yêu cầu xây dựng Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản nhằm phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa, có cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.

Chia sẻ góc nhìn, Giáo sư Phùng Hồ Hải cho rằng, nghiên cứu cơ bản nằm ở gốc của hệ sinh thái bồi dưỡng và đào tạo nhân lực khoa học công nghệ. Đó là lý do thực dụng, ngắn hạn mà các nước công nghiệp phát triển đầu tư cho nghiên cứu cơ bản.

"Tất nhiên sau việc hưởng lợi ngắn hạn từ việc đầu tư đó, họ còn hưởng lợi ích dài hạn của việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản. Bởi vì các thành tựu của nghiên cứu cơ bản chỉ có thể được biến đổi thành sản phẩm khoa học công nghệ nhờ chính những nhân lực khoa học công nghệ mà hệ sinh thái xuất phát từ hoạt động nghiên cứu bản nói trên đã đào tạo ra," ông cho biết và khẳng định, nghiên cứu cơ bản đứng đầu chuỗi phát triển khoa học công nghệ. Nó vừa cung cấp ý tưởng giải quyết các vấn đề của công nghệ vừa cung cấp nhân lực để hiện thực hóa ý tưởng này. Cách hiệu quả nhất của Việt Nam là đầu tư nghiên cứu cơ bản với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực.

Giáo sư Phùng Hồ Hải đề xuất Nhà nước cần phát hiện và đầu tư cho những nhà khoa học chuyên nghiệp và nghiêm túc. Họ cần được đánh giá từ chính những đồng nghiệp theo một cách nghiêm túc, công khai, minh bạch; đồng thời, cần có sự tham gia một cách chặt chẽ và tích cực từ cộng đồng khoa học quốc tế trong quá trình đánh giá này. “Và, khi đã đầu tư thì phải điều kiện cao nhất cho họ. Nói cách khác, nếu đã giao việc thì phải tin tưởng,” Giáo sư Phùng Hồ Hải nói.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng, nếu muốn đáp ứng các mục tiêu lớn hơn trong phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là các công nghệ chiến lược, Việt Nam chắc chắn phải bổ sung và phát triển mạnh hơn về đội ngũ nghiên cứu khoa học. Việc thu hút nhân lực trẻ, nhất là các nhà khoa học được đào tạo ở nước ngoài cũng như đội ngũ trí thức Việt Nam toàn cầu quay trở về làm việc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, để những chính sách này phát huy hiệu quả, cần thời gian cùng một môi trường nghiên cứu đủ sức cạnh tranh.

So sánh với các mô hình quốc tế, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Văn Trung nhận thấy sự khác biệt hiện nay khá rõ. Tại nhiều đại học lớn trên thế giới, một khoa có thể chỉ có vài chục giáo sư, nhưng xung quanh mỗi giáo sư là cả một hệ sinh thái nghiên cứu gồm trợ lý nghiên cứu, sau nghiên cứu sinh, nghiên cứu sinh và kỹ sư hỗ trợ. Khi có được nguồn tài trợ lớn, nhóm nghiên cứu này có thể nhanh chóng xây dựng phòng thí nghiệm và tuyển dụng nhân lực trong thời gian rất ngắn. Cơ chế này tạo ra tính linh hoạt rất lớn, thúc đẩy luân chuyển nhân lực và liên tục bổ sung “nguồn lực mới” cho hệ thống nghiên cứu. Trong khi đó, ở Việt Nam, đội ngũ nghiên cứu hiện chủ yếu vẫn gắn với biên chế dài hạn. Điều này tạo ra sự ổn định nhất định nhưng đồng thời cũng phần nào hạn chế tính cạnh tranh, khả năng làm mới đội ngũ và tốc độ thích ứng với các hướng nghiên cứu mới.

Một điểm nghẽn nữa được nhiều nhà khoa học nhắc đến từ lâu, đó là cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Văn Trung, tại nhiều quốc gia, việc một đề tài không đạt kết quả như kỳ vọng được xem là điều bình thường của quá trình khám phá khoa học. Các dự án hàng chục triệu USD vẫn có thể bị dừng giữa chừng nếu hội đồng khoa học độc lập đánh giá không còn tính khả thi. Trong khi đó, ở Việt Nam, việc kết thúc sớm một đề tài chưa đạt kết quả vẫn còn nhiều ràng buộc về thủ tục và trách nhiệm. Điều này tạo tâm lý e ngại rủi ro trong giới nghiên cứu, khiến nhiều người lựa chọn các hướng đi an toàn thay vì theo đuổi các ý tưởng đột phá.

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã có những nội dung chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm và chấp nhận rủi ro khoa học. Tuy nhiên, từ thay đổi trong luật đến thay đổi trong thực tế vẫn đang là khoảng cách không nhỏ.

Nhìn nhận thẳng thắn trước những điểm nghẽn trên để thấy rõ, khoa học cơ bản ở Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ. Đó không đơn thuần là tăng thêm ngân sách hay số lượng đề tài nghiên cứu, mà là thay đổi cách tiếp cận đối với khoa học; từ cơ chế quản trị, tài trợ, đánh giá đến việc xây dựng môi trường học thuật chuyên nghiệp và chấp nhận rủi ro sáng tạo.

Điều này càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển các công nghệ chiến lược như lượng tử, AI, robot, năng lượng nguyên tử hay bán dẫn... Muốn đạt được mục tiêu này, Việt Nam không còn con đường nào khác ngoài việc phải xây dựng nền nghiên cứu khoa học cơ bản Việt Nam hiện đại, tự chủ, hội nhập, có trọng tâm, có khả năng tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, cung cấp luận cứ chiến lược cho hoạch định đường lối, chính sách và làm nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Nghiên cứu khoa học cơ bản không phải hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ 21. Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những bước nhảy vọt công nghệ đều bắt đầu từ đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản, cho nhân lực và cho hệ sinh thái nghiên cứu.Khoa học cơ bản Việt Nam đang đứng trước một cơ hội chuyển mình chưa từng có. Tuy nhiên, để biến cơ hội ấy thành sức bật thực sự, cần có những đổi mới đồng bộ về tư duy quản lý, cơ chế đầu tư, môi trường học thuật cũng như cách nhìn nhận vai trò của nhà khoa học.

Khi những điểm nghẽn về thể chế, nhân lực, tài chính được tháo gỡ, lòng tin đối với các nhà khoa học cũng như khoa học cơ bản được nâng lên, khoa học cơ bản sẽ không còn là lĩnh vực đầu tư cho tương lai xa mà sẽ trở thành nền móng trực tiếp cho năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và vị thế phát triển của quốc gia trong kỷ nguyên mới./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục