Ngành thép của Ấn Độ đang tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất thế giới, nhờ xu hướng đầu tư mạnh cho năng lực sản xuất của các nhà sản xuất thép lớn như Tata Steel và JSW Steel trong vài năm trở lại đây.
Theo phóng viên TTXVN tại New Delhi, ngành công nghiệp thép đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, xây dựng và sản xuất, và là một ví dụ điển hình trong chiến lược “Sản xuất tại Ấn Độ” của Chính quyền Thủ tướng Narendra Modi. Tăng trưởng của ngành này được mở rộng mạnh mẽ kể từ sau đại dịch COVID-19 và đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất toàn cầu trong giai đoạn 2022-2025. Hiện tại, tốc độ này vẫn được tiếp tục duy trì cho đến nay.
Một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng ngành thép của Ấn Độ là sự vào cuộc mạnh mẽ của khu vực tư nhân như Tata Group, JSW và nhiều tập đoàn lớn khác. Các tập đoàn này tập trung vào chiến lược thúc đẩy hợp tác với toàn bộ ngành sản xuất trong nước để xác định nhu cầu và nâng cao năng lực sản xuất cũng như đầu tư theo tầm nhìn hàng thập kỷ.
Cùng với đó là sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ Ấn Độ trong việc triển khai hàng loạt biện pháp khuyến khích sản xuất như Cơ chế liên kết sản xuất (PLI) đối với những mặt hàng có giá trị gia tăng, hay việc áp thuế phòng vệ 12% đối với nhập khẩu một số sản phẩm thép tấm hợp kim và phi hợp kim từ tháng 4/2025, có hiệu lực trong 3 năm. Những biện pháp này của chính phủ đã tiếp thêm lòng tin cho ngành công nghiệp thép ở trong nước, vốn được coi là nguyên liệu đầu vào quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp từ ôtô đến xây dựng nhà ở…
Theo dữ liệu từ tổ chức ngành thép toàn cầu, Ấn Độ hiện dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng ngành thép trên thế giới (so theo năm) và đứng thứ hai về tổng sản lượng sản xuất. Danh sách 5 quốc gia sản xuất thép hàng đầu theo thứ tự giảm dần trong năm 2026, tính đến thời điểm này, là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản và Nga.
Trên thực tế, tốc độ tăng trưởng nhanh của ngành thép Ấn Độ chủ yếu đến từ sự mở rộng năng lực sản xuất thép của hai nhà sản xuất hàng đầu là Tata Steel và JSW Steel. Tata Steel đặt mục tiêu sẽ sản xuất tổng cộng 36 triệu tấn thép trên toàn cầu trong năm 2026, trong đó sản xuất ở trong nước sẽ đạt gần 27,4 triệu tấn.
Trong năm ngoái, tổng sản lượng thép toàn cầu của Tata Steel là 35,3 triệu tấn và sản xuất trong nước đạt 26,6 triệu tấn. Việc khánh thành giai đoạn 2 mở rộng tại nhà máy ở trung tâm công nghiệp Kalinganagar, bang miền Đông Odisha, trong năm nay đã giúp Tata Steel mở rộng danh mục sản phẩm thép tấm của mình sang các lĩnh vực có giá trị cao như ôtô và công nghiệp quốc phòng.
Tương tự, JSW Steel đặt mục tiêu đạt 36,4 triệu tấn thành phẩm sản xuất nội địa trong năm nay, trong đó có 4,5 triệu tấn do liên doanh JSW-JFE Steel thực hiện. Con số này tăng mạnh so với tổng sản lượng 34,2 triệu tấn trong năm ngoái, một phần nhờ huy động tới 96% công suất sản xuất và đẩy mạnh sản lượng ở nhà máy sản xuất chính Vijayyanagar tại bang Karnataka.
Tất nhiên, các công ty thép của Ấn Độ được hưởng lợi nhờ nhu cầu tăng trưởng mạnh mẽ từ các ngành công nghiệp trọng điểm như ôtô và xây dựng, cùng với các biện pháp chính sách được Chính phủ và Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) thực hiện nhằm kích cầu trong nước trong bối cảnh khủng hoảng Trung Đông kéo dài.
Chương trình PLI và thuế phòng vệ 12% đã tạo động lực mạnh mẽ cho ngành sản xuất thép trong nước và giảm phụ thuộc vào bên ngoài, qua đó tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Chương trình tập trung vào 5 dòng sản phẩm chính, bao gồm thép mạ hoặc phủ, thép cường độ cao/chống mài mòn, ray chuyên dụng, thép hợp kim và dây thép, cũng như thép điện. Mục tiêu của chương trình là sẽ sản xuất 42 triệu tấn thép chuyên dụng hằng năm vào năm tài chính 2027.
Đáng chú ý là xu hướng tăng trưởng ngành thép ở Ấn Độ trái ngược với ở Trung Quốc, nơi đang chứng kiến nhu cầu thép sụt giảm mạnh do đóng băng trong lĩnh vực nhà ở và giảm nhu cầu tiêu thụ từ các đối tác nhập khẩu chủ chốt như Mỹ và Ấn Độ. Việc Liên minh châu Âu (EU) áp thuế đối với thép Trung Quốc xuất sang thị trường châu Âu cũng làm giảm sản lượng của Bắc Kinh.
Theo số liệu thống kê, sản lượng thép của Trung Quốc hiện giảm dần qua từng năm, từ 1.017,9 triệu tấn năm 2022 xuống 960 tấn năm 2025, trong khi sản lượng tương ứng của Ấn Độ là 125,37 triệu tấn và 165 triệu tấn./.