Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh (Bài 3)

Để tài nguyên văn hóa trở thành nguồn lực phát triển

Bài toán nhân lực cho công nghiệp văn hóa không dừng ở đào tạo nghệ sỹ mà còn là xây dựng đội ngũ đủ khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm và vận hành một hệ sinh thái sáng tạo.
Du khách tham quan trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thu Hương/TTXVN)

Tài nguyên văn hóa phong phú là một lợi thế nhưng lợi thế ấy không tự chuyển hóa thành sản phẩm và giá trị phát triển. Từ một di sản, câu chuyện lịch sử hay loại hình nghệ thuật đến sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng là một chuỗi sáng tạo, sản xuất, truyền thông và phân phối.

Trong quá trình ấy, con người là “mắt xích” quyết định. Bài toán nhân lực cho công nghiệp văn hóa vì thế không dừng ở đào tạo nghệ sỹ mà còn là xây dựng đội ngũ đủ khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành sản phẩm và vận hành một hệ sinh thái sáng tạo.

Từ tài nguyên đến sản phẩm

Một bảo tàng có thể sở hữu hàng nghìn hiện vật nhưng chúng không tự trở thành trải nghiệm văn hóa. Một câu chuyện lịch sử không tự trở thành bộ phim. Một loại hình nghệ thuật truyền thống cũng không tự tìm được khán giả mới. Giữa tài nguyên và sản phẩm luôn là con người.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng tiếp cận công nghiệp văn hóa theo một chuỗi bắt đầu từ tài nguyên văn hóa và ý tưởng sáng tạo, sau đó đi qua sáng tạo nội dung, sản xuất, xuất bản, truyền thông, phân phối, tiêu dùng và tiếp tục được tái đầu tư để hình thành giá trị mới. Theo ông, nguồn nhân lực hiện diện xuyên suốt và quyết định khả năng liên kết giữa các mắt xích trong chuỗi.

Cách tiếp cận ấy cho thấy vì sao sở hữu nhiều tài nguyên văn hóa chưa đồng nghĩa có một nền công nghiệp văn hóa mạnh. Khoảng cách nằm ở năng lực chuyển hóa.

Một ví dụ có thể nhìn thấy từ bảo tàng. Tiến sỹ Phạm Ngọc Uyên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu trường hợp Bảo tàng Mỹ thuật và Bảo tàng Lịch sử thành phố, ghi nhận hai bảo tàng bước đầu chuyển từ mô hình lưu giữ di sản sang giáo dục tương tác có ứng dụng công nghệ số.

Khách tham quan trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN)

Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Tiến sỹ Phạm Ngọc Uyên là đặt công chúng vào chuỗi phát triển công nghiệp văn hóa. Một bảo tàng không chỉ cần người nghiên cứu hiện vật mà còn cần người biết diễn giải di sản, thiết kế hoạt động giáo dục, tạo trải nghiệm và kết nối với người xem. Khi công chúng hiểu, trải nghiệm và hình thành nhu cầu tiếp tục sử dụng sản phẩm văn hóa, giá trị của tài nguyên mới có khả năng tiếp tục lan tỏa.

Điều này mở rộng đáng kể khái niệm nhân lực văn hóa. Nhu cầu nhân lực không chỉ được đặt ở các tài năng trực tiếp sáng tạo mà còn ở nhà sản xuất, giám tuyển, quản trị dự án, thiết kế trải nghiệm, quản trị bản quyền, truyền thông số và doanh nhân văn hóa. Đây chính là những vị trí kết nối tác phẩm với công nghệ, vốn, thị trường và công chúng.

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đặt phát triển nguồn nhân lực trong mối quan hệ với công nghiệp văn hóa, khoa học-công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết yêu cầu phát triển các chương trình đào tạo đặc thù về văn hóa, nghệ thuật, công nghiệp sáng tạo và quản trị dữ liệu văn hóa; chú trọng nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt nhân lực về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sáng tạo nội dung số.

Để các “mắt xích” gặp nhau

Nếu năng lực chuyển hóa quyết định một tài nguyên văn hóa có thể trở thành sản phẩm hay không, thì môi trường kết nối lại quyết định những năng lực ấy có thể phối hợp và phát huy đến đâu. Công nghiệp văn hóa vì thế không chỉ cần những cá nhân giỏi nghề mà cần điều kiện để người sáng tạo, nhà sản xuất, thiết chế văn hóa, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và công chúng cùng tham gia vào quá trình tạo ra giá trị.

Từ góc độ quản lý, bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ trong bối cảnh mới, cùng với việc xây dựng đội ngũ văn nghệ sỹ, nhất là lực lượng trẻ, cần chú trọng ứng dụng công nghệ số trong sáng tạo, quảng bá nghệ thuật và mở rộng hợp tác. Các tổ chức nghề nghiệp cũng cần phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố trẻ vừa có chuyên môn, uy tín nghề nghiệp, vừa am hiểu pháp luật, có tinh thần trách nhiệm và khả năng tập hợp đội ngũ.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)

Yêu cầu này cho thấy công nghiệp văn hóa không chỉ cần những người trực tiếp sáng tạo. Để một ý tưởng trở thành sản phẩm và sản phẩm đến được với thị trường, còn cần những người có khả năng tổ chức, kết nối nguồn lực, quản trị dự án và tạo môi trường để các tài năng khác cùng làm việc.

Nói cách khác, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được đo bằng năng lực của từng cá nhân mà còn phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa những con người có chuyên môn khác nhau.

Trong hệ sinh thái ấy, các tổ chức nghề nghiệp có thể giữ vai trò cầu nối. Từ thực tiễn làm nghề, Nghệ sỹ Nhân dân Trịnh Kim Chi, Chủ tịch Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh cho biết xác định một trong những trách nhiệm của Ban Chấp hành mới là phát huy truyền thống, xây dựng sự đoàn kết trong đội ngũ nghệ sỹ, đổi mới hoạt động và góp phần đưa sân khấu Thành phố ngày càng gần hơn với công chúng.

Trong nhiệm kỳ mới, Hội đặt trọng tâm vào phát triển lực lượng kế thừa, bồi dưỡng tác giả, đạo diễn, đội ngũ lý luận phê bình; duy trì hoạt động truyền nghề và mở rộng giao lưu quốc tế. Qua đó, vai trò của hội nghề nghiệp không chỉ dừng ở tập hợp hội viên mà còn có thể tạo sự kết nối giữa các thế hệ nghệ sỹ, cơ sở biểu diễn, hoạt động đào tạo và công chúng.

Ở một “mắt xích” khác, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất cần nhìn trường đại học không đơn thuần là nơi cung ứng nhân lực cho thị trường mà là một bộ phận của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Các lĩnh vực như quản lý văn hóa, truyền thông, xuất bản, bảo tàng, di sản hay du lịch đều có thể tham gia vào những công đoạn khác nhau, từ nhận diện tài nguyên, sáng tạo nội dung, tổ chức sản xuất đến truyền thông, phân phối và phát huy giá trị văn hóa.

Như vậy, hệ sinh thái nhân lực cho công nghiệp văn hóa không thể chỉ gồm nhà trường và doanh nghiệp. Nhà trường cung cấp nền tảng tri thức và đào tạo con người; doanh nghiệp tổ chức sản xuất, kinh doanh và đưa sản phẩm ra thị trường; bảo tàng, nhà hát cùng các thiết chế văn hóa vừa lưu giữ nguồn tài nguyên, vừa cung cấp không gian thực hành và tiếp cận công chúng; hội nghề nghiệp kết nối, hỗ trợ chuyên môn và truyền nghề; cơ quan quản lý kiến tạo môi trường chính sách.

Bên cạnh đó còn có nghệ sỹ, nhà sản xuất, chuyên gia công nghệ, người làm truyền thông, các không gian sáng tạo và chính công chúng - chủ thể tiếp nhận, phản hồi và góp phần xác lập giá trị của sản phẩm.

Tinh thần này cũng phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW khi đặt nhiệm vụ xây dựng hệ sinh thái văn hóa, trong đó doanh nghiệp là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; đồng thời khuyến khích hình thành các không gian sáng tạo, tăng kết nối văn hóa với du lịch, thương mại và công nghệ để hình thành chuỗi giá trị.

Với Thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề không chỉ nằm ở số lượng nhân lực được đào tạo mà còn ở khả năng tạo môi trường để những con người ấy phát huy năng lực. Một đạo diễn trẻ cần nơi đưa tác phẩm đến khán giả; nhà thiết kế cần không gian thử nghiệm; người làm bảo tàng cần phương pháp và công nghệ để diễn giải di sản; nhà sáng tạo cần người tổ chức sản xuất, truyền thông và am hiểu thị trường. Những năng lực riêng lẻ chỉ tạo thành giá trị khi có điều kiện gặp nhau trong một quá trình sáng tạo chung.

Nhìn lại toàn bộ bài toán nhân lực, ba vấn đề có quan hệ nối tiếp nhau: khoảng cách từ giảng đường đến thị trường cho thấy những năng lực thực tiễn còn thiếu; đổi mới đào tạo đặt ra cách chuẩn bị người học tốt hơn; còn hệ sinh thái quyết định những năng lực sau đào tạo có thể gặp nhau, được sử dụng và tạo ra giá trị đến đâu. Đây cũng là những điểm quyết định khả năng chuyển hóa nguồn tài nguyên văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì vậy, đầu tư cho nhân lực không phải là khâu đi sau của phát triển công nghiệp văn hóa mà cần được xem là một nền tảng của quá trình này. Khi con người được chuẩn bị đúng năng lực và có môi trường để cộng tác, những giá trị văn hóa được gìn giữ mới có điều kiện tiếp tục được sáng tạo, chuyển hóa thành sản phẩm và lan tỏa trong đời sống đương đại./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục