Từ phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, chăn nuôi công nghệ cao, đến nuôi biển công nghiệp, sản xuất lúa gạo chất lượng cao, thực tiễn tại các địa phương cho thấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho ngành nông nghiệp và môi trường.
Tuy vậy, để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực chất, cần tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, dữ liệu, nguồn lực và liên kết thị trường, lấy hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả.
Tháo gỡ điểm nghẽn từ thực tiễn sản xuất
Thực tiễn tại tỉnh Tuyên Quang cho thấy với hơn 858.000 ha rừng và hàng trăm cơ sở chế biến lâm sản, địa phương này có nền tảng phát triển kinh tế rừng giá trị cao. Tuy vậy, diện tích rừng lớn chưa đồng nghĩa với nguồn gỗ lớn ổn định, khi nhiều hộ vẫn chọn phương án khai thác sớm để bảo đảm sinh kế, thay vì chờ đợi mức lợi nhuận chưa chắc chắn.
Theo ông Hoàng Gia Long - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang, lựa chọn trên của người dân không đơn thuần nằm ở nhận thức hay kỹ thuật canh tác, mà còn xuất phát từ bài toán sinh kế. Giữ rừng lâu hơn đồng nghĩa với chậm thu hồi vốn, gia tăng rủi ro thiên tai, sâu bệnh và biến động giá, trong khi lợi ích kinh tế từ gỗ lớn chưa thực sự chắc chắn.
Bên cạnh đó, nguyên nhân còn do địa hình đồi núi chia cắt, sản xuất phân tán khiến chi phí khai thác, vận chuyển tăng cao. Liên kết giữa người trồng rừng và doanh nghiệp chế biến chưa ổn định; thông tin thị trường, dữ liệu vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc còn thiếu đồng bộ.
Theo ông Hoàng Gia Long, muốn phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn bền vững, không thể chỉ vận động người dân giữ rừng lâu hơn, mà phải xây dựng được mô hình kinh doanh để họ thực sự có lợi khi kéo dài chu kỳ khai thác. "Đây chính là bài toán mà khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần tập trung giải quyết, góp phần nâng cao giá trị kinh tế rừng và cải thiện sinh kế người dân,” ông Long nhấn mạnh.
Trong lĩnh vực thủy sản, Quảng Ninh cũng đứng trước yêu cầu chuyển từ phát triển dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị dựa trên khoa học và dữ liệu.
Ông Nguyễn Văn Công - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Quảng Ninh, cho biết trong cơ cấu nông nghiệp địa phương, thủy sản chiếm trên 45% giá trị toàn ngành, riêng nuôi trồng đóng góp khoảng 60% tổng sản lượng thủy sản. Đến tháng 9/2026, Quảng Ninh đã giao hơn 4.692 ha mặt biển cho 57 tổ chức và 517 ha cho 807 cá nhân, trong đó các cơ sở nuôi hàu Thái Bình Dương chiếm khoảng 60% tổng số cơ sở được giao biển.
Tuy nhiên, lãnh đạo thành phố Quảng Ninh cũng chỉ ra nhiều điểm nghẽn trong phát triển nuôi biển, đặc biệt là thiếu quy hoạch chi tiết về không gian nuôi. Cùng với đó là môi trường, nguồn giống, năng lực sản xuất tại chỗ, công nghệ chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và xử lý chất thải; hệ thống truy xuất nguồn gốc, quan trắc môi trường chưa được số hóa đồng bộ.
“Muốn nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị hàu, không chỉ mở rộng diện tích nuôi mà phải chuyển mạnh từ phát triển theo kinh nghiệm sang phát triển dựa trên khoa học công nghệ, dữ liệu, quản trị hiện đại,” ông Công nói.
Trong khi đó, Nghệ An cho thấy hiệu quả của việc đưa công nghệ vào phát triển ngành hàng gắn với doanh nghiệp dẫn dắt. Trong 9 tháng từ đầu năm 2026, tốc độ tăng trưởng kinh tế của ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh đạt 4,64%; sản lượng sữa tươi đạt khoảng 315 triệu lít. Tỷ lệ sữa tươi từ chăn nuôi công nghệ cao chiếm 98% tổng lượng sữa toàn tỉnh.
Theo bà Võ Thị Nhung - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, chuỗi ngành hàng bò sữa ứng dụng công nghệ cao là minh chứng cho vai trò của khoa học, công nghệ và sự tham gia của các tập đoàn kinh tế.
Từ thực tiễn trên, Nghệ An kiến nghị Trung ương ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong chăn nuôi công nghệ cao, cho phép thí điểm đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) và trao đổi tín chỉ carbon trong chăn nuôi bò sữa tuần hoàn. Tỉnh cũng đề xuất cơ chế Nhà nước đặt hàng các bài toán kỹ thuật lớn cho doanh nghiệp dẫn dắt, tập trung nghiên cứu công nghệ sinh học giống, vaccine và chế biến sâu sản phẩm sữa.
Ở lĩnh vực trồng trọt, Hưng Yên đã triển khai 100 mô hình canh tác cải tiến, giúp giảm 30% lượng giống, 27% công cấy, 44% công phun thuốc; năng suất tăng khoảng 9%, lợi nhuận tăng thêm khoảng 8,59 triệu đồng/ha so với phương thức truyền thống. Khâu thu hoạch được cơ giới hóa hoàn toàn, kết hợp sấy kịp thời và kiểm soát nhiệt độ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch.
Giai đoạn 2027-2030, Hưng Yên dự kiến lựa chọn 2-3 vùng nguyên liệu lúa gạo chất lượng cao, quy mô 100-300 ha/vùng, để áp dụng đồng bộ quy trình canh tác, cơ giới hóa, sấy, chế biến và tiêu thụ; định hướng chuyển từ đánh giá theo số lượng mô hình sang hiệu quả kinh tế thực tế, phấn đấu giảm ít nhất 10% chi phí sản xuất và tăng ít nhất 15% lợi nhuận mỗi vụ.
Liên thông dữ liệu, đổi mới cơ chế để tạo sức bật tăng trưởng
Bên cạnh công nghệ sản xuất, dữ liệu và chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng cũng đang trở thành yêu cầu cấp thiết, nhất là khi thị trường đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch sản phẩm.
Với quy mô tiêu thụ nông, lâm, thủy sản phục vụ khoảng 10 triệu người, Hà Nội đã triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản từ năm 2018; phối hợp với các địa phương hình thành và kiểm soát 1.388 chuỗi cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn; phát triển hơn 3.400 sản phẩm OCOP. Từ ngày 3/8/2026, hệ thống cơ sở dữ liệu về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm chính thức vận hành, tiếp nhận đăng ký tài khoản và hồ sơ trực tuyến.
Ông Bùi Duy Cường - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, cho biết thành phố sẽ tiếp tục hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, chuẩn hóa thông tin về cơ sở sản xuất, sản phẩm, lô hàng, chứng nhận và lưu thông hàng hóa; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát, cảnh báo, truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực số cho hợp tác xã, doanh nghiệp, nông dân.
Tại Hưng Yên cũng đã có 15 doanh nghiệp đăng tải thông tin trên hệ thống truy xuất nguồn gốc, giúp kết nối dữ liệu toàn chuỗi từ vật tư, tưới tiêu, thu hoạch đến hợp đồng tiêu thụ. Tiếp theo, tỉnh kiến nghị xem xét đưa 3 nhóm công nghệ lõi của địa phương (bản sao số quản lý môi trường/thiên tai; IoT/Blockchain truy xuất nguồn gốc nông sản; Blockchain quản lý tài chính/tín dụng nông thôn) vào Danh mục công nghệ ưu tiên đầu tư.
Yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng phần mềm hay số hóa hồ sơ riêng lẻ, mà phải bảo đảm dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông, cập nhật và có khả năng phục vụ trực tiếp công tác quản lý, điều hành sản xuất và kết nối thị trường.
Đó cũng là lý do Tuyên Quang kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu hiệu quả kinh tế của rừng trồng gỗ lớn, tác động của chính sách tín dụng, cơ chế hình thành giá và phân chia lợi ích, rủi ro trong chuỗi giá trị.
Trong khi đó, Nghệ An đề xuất tăng cường hỗ trợ phát triển ngành hàng bò sữa và kết nối cơ sở dữ liệu chăn nuôi với dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Thành phố Hà Nội cũng kiến nghị tiếp tục hỗ trợ kết nối, đồng bộ hệ thống dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương, tạo điều kiện để Thủ đô hoàn thiện công tác truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản, đáp ứng yêu cầu quản lý an toàn thực phẩm và phục vụ người tiêu dùng.
Các kiến nghị trên cho thấy nhu cầu cấp thiết phải tháo gỡ đồng thời những điểm nghẽn về thể chế, đầu tư, dữ liệu và tổ chức sản xuất. Trong đó, cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và thị trường; lựa chọn các bài toán công nghệ có khả năng tạo tác động lớn; phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp và nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ của người dân.
Về phía Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh bốn nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới phương thức quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở nghiên cứu, thúc đẩy liên kết giữa nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp và thị trường; tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế, chính sách; đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu phục vụ quản lý sản xuất và kết nối thị trường.
Đặc biệt, ông Hùng lưu ý yêu cầu truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin sản phẩm phải được thực hiện xuyên suốt ở tất cả các ngành hàng, lĩnh vực. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp với Bộ Công an, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia và các bộ, ngành liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện, gắn trách nhiệm người đứng đầu.
Từ thực tiễn các địa phương có thể thấy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà cần trở thành nền tảng tổ chức lại sản xuất, quản trị tài nguyên và phát triển thị trường. Đây cũng là yêu cầu quan trọng trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia./.