Trong tiến trình lịch sử của nền hành chính Việt Nam, việc chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp được xem như một cuộc cách mạng "sắp xếp lại giang sơn" mang tầm vóc chiến lược.
Tuy nhiên, sẽ là phiến diện, thiếu công bằng nếu bức tranh một năm vận hành mô hình này chỉ toàn những gam màu rực rỡ của thành tích. Ẩn sâu dưới lớp sóng trào mạnh mẽ của công cuộc cải cách là những đêm sáng đèn nơi công sở, là những áp lực khổng lồ đang đè nặng trên đôi vai của đội ngũ cán bộ tuyến đầu – những người trực tiếp đối diện, giải quyết những vấn đề của nhân dân.
“Phân quyền đồ sộ" nhưng "nguồn lực mỏng manh"
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, triết lý "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" đã trao cho cấp xã một sứ mệnh lịch sử chưa từng có. Cấp xã không còn là "cánh tay nối dài" mà trở thành tuyến đầu thực thi chính sách, là trung tâm điều hành tại cơ sở. Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, thực tiễn cũng phơi bày một nghịch lý bất đối xứng giữa quyền lực được giao và nguồn lực được cấp.
Tiến sỹ Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đã thẳng thắn nhìn nhận một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là việc bảo đảm sự đồng bộ giữa phân cấp, phân quyền với các điều kiện thực hiện. Việc chuyển giao nhiệm vụ và thẩm quyền diễn ra nhanh hơn quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và chuẩn bị nguồn lực thực hiện, tạo ra một khoảng cách lớn giữa nhiệm vụ được giao với năng lực tổ chức thực hiện.
Ông Dương Đức Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cũng nhận định: "Năng lực thực thi của cấp xã chưa đồng đều, trong khi khối lượng công việc giữa các địa bàn chênh lệch rất lớn. Thực tiễn Hà Nội cho thấy không thể áp dụng một mặt bằng duy nhất cho tất cả cấp xã."
Theo ông Dương Đức Tuấn, một phường lõi đô thị có dân số lớn, mật độ cao, nhiều hồ sơ liên quan đến đất đai, xây dựng, trật tự đô thị và an sinh xã hội sẽ có khối lượng công việc hoàn toàn khác biệt so với một xã nông thôn, xã bãi sông, xã miền núi hay địa bàn có dân cư phân tán. Tuy nhiên, việc bố trí biên chế, vị trí việc làm, định mức ngân sách và cơ chế hỗ trợ chuyên môn hiện nay vẫn áp dụng theo bình quân, chưa phản ánh đầy đủ quy mô quản trị thực tế.
"Hiện tại, một số xã, phường thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về đất đai, xây dựng, tài chính, đầu tư công, công nghệ thông tin, chuyển đổi số và quản lý đô thị. Một bộ phận cán bộ cơ sở còn gặp khó khăn khi tiếp nhận nhiệm vụ mới, đặc biệt là những công việc đòi hỏi thẩm định chuyên môn, xử lý hồ sơ lịch sử, xác minh nguồn gốc đất, quyết toán dự án, xử lý tài sản công hoặc giải quyết vụ việc phức tạp," Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cho hay.
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là việc bảo đảm sự đồng bộ giữa phân cấp, phân quyền với các điều kiện thực hiện. Việc chuyển giao nhiệm vụ và thẩm quyền diễn ra nhanh hơn quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và chuẩn bị nguồn lực thực hiện, tạo ra một khoảng cách lớn giữa nhiệm vụ được giao với năng lực tổ chức thực hiện.
Nghịch lý này được ông Mai Hữu Quyết, Bí thư Đảng ủy phường Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh), đúc kết bằng hình ảnh “phân quyền đồ sộ” nhưng “nhân lực mỏng và kiêm nhiệm.” Tại một siêu phường với quy mô dân số hơn 120.000 người, chính quyền cấp cơ sở đang phải gánh vác việc triển khai và giám sát tiến độ của các dự án hạ tầng trọng điểm mang tính huyết mạch. Việc Thành phố phân cấp, ủy quyền hơn 1.000 nhiệm vụ cho cấp xã đã khiến khối lượng công việc dồn về cơ sở tăng đột biến. Thực tế đang diễn ra tình cảnh một phòng chuyên môn cấp phường phải gánh vác, phụ trách các lĩnh vực của khoảng 7 sở ngành cấp tỉnh đổ xuống.
Đáng lưu ý, tình cảnh này không chỉ là cá biệt ở các siêu đô thị. Tại các vùng núi cao, biên giới như Nghệ An hay Lào Cai, khi khoảng cách địa lý bị kéo giãn sau sáp nhập, sự thiếu hụt cán bộ chuyên môn sâu về đất đai, xây dựng, quy hoạch và công nghệ thông tin đang tạo ra những khoảng trống chới với. Một xã miền núi, với địa bàn rộng lớn và địa hình hiểm trở, nay phải gánh vác trọng trách tương đương một huyện nhỏ trước đây, nhưng cơ sở vật chất, phương tiện đi lại và chế độ đãi ngộ lại chưa có sự thay đổi mang tính đột phá.
Áp lực, kiệt sức và “bóng ma" sợ trách nhiệm
Khối công việc đồ sộ đang từng ngày đè nặng lên những người công bộc. Chuyển đổi mô hình không chỉ là câu chuyện của giấy tờ, mà là câu chuyện của những con người bằng xương bằng thịt. Rất nhiều cán bộ, công chức cấp xã hiện nay tại Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Yên... phải thường xuyên làm việc đến 20h, 21h, thậm chí 22h đêm mới rời công sở.
Đối mặt với khối lượng công việc khổng lồ, chuyên môn khá mới lạ đối với một số người và chịu nhiều rủi ro nếu làm sai (nhất là trong các lĩnh vực đất đai, tư pháp, xây dựng), đội ngũ này đang phải đối diện với tình trạng căng thẳng, mệt mỏi, thậm chí là hội chứng kiệt sức trong công việc.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Văn Giang, Hội đồng Lý luận Trung ương đã chỉ ra tình trạng "quá tải cục bộ" khi cán bộ cấp xã phải làm việc với cường độ cao, có khi thường xuyên lên tới 12–14 tiếng/ngày. Tình trạng quá tải này kéo dài dễ dẫn đến sai sót trong ký duyệt hồ sơ, nảy sinh tâm lý mệt mỏi và bắt đầu xuất hiện làn sóng công chức trẻ có trình độ xin thôi việc để chuyển sang khu vực tư nhân. Trong khi đó, sự cống hiến quên mình lại đang phải đối mặt với một chế độ đãi ngộ chưa hợp lý, chưa khuyến khích được cán bộ hăng hái làm việc, khi khung lương và phụ cấp hiện hành chưa phù hợp với yêu cầu làm việc ở vị trí mới.
Chính sự quá tải này, cộng hưởng với việc công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán được siết chặt, đã sinh ra một "căn bệnh" tâm lý là sợ sai, sợ trách nhiệm, co cụm giữ an toàn. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Văn Giang nhấn mạnh, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đương nhiệm rơi vào trạng thái tâm lý e dè, phòng thủ, thiếu bản lĩnh thực thi công vụ. Xuất hiện hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, cán bộ không dám đặt bút ký đề xuất các giải pháp linh hoạt cho người dân, liên tục làm văn bản xin ý kiến hướng dẫn vòng vo lên cấp trên đối với cả những phần việc hoàn toàn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã.
Lý giải sâu xa cho tình trạng này, Phó giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Thủy, Viện Lãnh đạo học và Hành chính công (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) gọi đây là những nghịch lý trong giai đoạn chuyển đổi, khi "tư duy cải cách đã đi trước năng lực thích ứng và đáp ứng của hệ thống." Mặc dù trên phương diện tổ chức, cấp huyện đã bị xóa bỏ, nhưng trên phương diện hành vi và văn hóa quản lý, nhiều dấu ấn của cơ chế trung gian vẫn tiếp tục tồn tại. Đó là nghịch lý "xóa cấp huyện nhưng chưa xóa hết tư duy có huyện" - khi người cán bộ chưa hoàn toàn quen với sự tự chủ, vẫn giữ thói quen chờ đợi sự chấp thuận từ cấp trên trước khi ra quyết định.
Khi công nghệ chưa hóa phép màu
Trong kỷ nguyên số, sự thành bại của mô hình chính quyền hai cấp phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật số. Tuy nhiên, sự tắc nghẽn về hạ tầng đang đẩy cán bộ cơ sở vào thế tiến thoái lưỡng nan, biến công nghệ từ một "chiếc đũa thần" trở thành một gánh nặng mới.
Đại diện Thành ủy Hà Nội đã thẳng thắn vạch ra những điểm nghẽn chí tử về dữ liệu và liên thông phần mềm. Tình trạng “cát cứ dữ liệu”, “ốc đảo dữ liệu” vẫn còn ở một số cơ quan, lĩnh vực, khiến cấp xã, phường phải xử lý nhiều thao tác thủ công, còn người dân, doanh nghiệp vẫn phải cung cấp lại thông tin đã có. Sự đứt gãy còn nằm ở hệ thống phần mềm ngành dọc chưa gắn chặt với kiến trúc tổng thể và chuẩn dữ liệu dùng chung, dẫn đến tình trạng cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều phần mềm, nhập liệu lặp lại.
Tại phường Thủ Đức, ông Mai Hữu Quyết cũng chỉ ra bức xúc tương tự khi việc sử dụng song song các hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Thành phố và của các Bộ ngành trung ương đang gây ra tình trạng điều hướng chồng chéo. Đội ngũ cán bộ cơ sở bất đắc dĩ phải đóng vai trò “cầu nối thủ công” giữa các hệ thống rời rạc. Khi hệ thống của Bộ chưa ổn định, hay Cổng Dịch vụ công quốc gia đôi lúc quá tải, cập nhật trạng thái thanh toán chậm, cán bộ phải mất rất nhiều thời gian xử lý thủ công để gỡ vướng cho dân. Sự đứt gãy trong luồng dữ liệu này không chỉ trực tiếp làm giảm niềm tin của người dân vào chính quyền số mà còn tạo ra khối lượng công việc tồn đọng khổng lồ lên cán bộ cơ sở.
Thêm vào đó, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn lực bảo đảm cho hoạt động của chính quyền cơ sở tại một số địa phương chưa thực sự đồng bộ. Tỉnh ủy Lào Cai phản ánh thực trạng đường truyền mạng tại một số địa bàn vùng cao, vùng xa còn thiếu ổn định; trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu số hóa hồ sơ, xử lý công việc trên môi trường điện tử.
Ông Phạm Thành Kiên, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "Công tác phân cấp, phân quyền ở một số lĩnh vực chưa thực sự gắn với phân bổ tương xứng về nguồn lực thực hiện. Mặc dù nhiệm vụ và thẩm quyền của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã ngày càng được mở rộng, nhưng biên chế nhân lực, ngân sách và các điều kiện đảm bảo thực hiện vẫn còn hạn chế."
"Sự chênh lệch về dân số, số lượng đảng viên và khối lượng công việc giữa các địa phương tạo ra áp lực không đồng đều trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp với đặc thù từng địa bàn, đảm bảo rằng việc giao nhiệm vụ phải đi kèm với các điều kiện thực hiện tương ứng," ông Phạm Thành Kiên đề xuất.
Phân quyền không thể chỉ là những dòng chữ lạnh lùng trên các Nghị định, Quyết định. Giao quyền phải đi liền với việc trang bị cho cán bộ cơ sở một chiếc "khiên" pháp lý vững chắc để bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm; phải trao cho họ "thanh kiếm" là hệ thống dữ liệu liên thông, hiện đại và phải tiếp "nhiên liệu" cho họ bằng một chế độ đãi ngộ, tiền lương tương xứng với mồ hôi và chất xám mà họ bỏ ra.
Nhìn thẳng vào những nghịch lý, điểm nghẽn và áp lực kể trên không phải để phủ nhận giá trị của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. Ngược lại, như Phó giáo sư, Tiến sỹ Trần Thị Thanh Thủy nhận định, đây không nên bị xem là những thất bại của cải cách, mà đúng hơn là những "chi phí (học tập) thể chế" thường xuất hiện khi một hệ thống chuyển từ trạng thái cũ sang trạng thái mới. Những nghịch lý này thực chất cho thấy cải cách tổ chức bộ máy đã hoàn thành giai đoạn đầu và đang bước sang giai đoạn khó khăn hơn là tạo chuyển biến thực chất về tư duy công vụ, năng lực quản trị và văn hóa quản trị.
Áp lực lớn của cán bộ cấp xã hiện nay là tiếng chuông cảnh báo, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách vĩ mô phải có sự thấu cảm sâu sắc. Phân quyền không thể chỉ là những dòng chữ lạnh lùng trên các Nghị định, Quyết định. Giao quyền phải đi liền với việc trang bị cho cán bộ cơ sở một chiếc "khiên" pháp lý vững chắc để bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm; phải trao cho họ "thanh kiếm" là hệ thống dữ liệu liên thông, hiện đại và phải tiếp "nhiên liệu" cho họ bằng một chế độ đãi ngộ, tiền lương tương xứng với mồ hôi và chất xám mà họ bỏ ra.
Những thách thức, nghịch lý và điểm nghẽn trong quá trình chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là những vấn đề cần giải quyết ngay lập tức mà còn là cơ hội để kiến tạo năng lực hệ thống. Sự sáng tạo từ cơ sở sẽ là ánh sáng dẫn đường cho những bước bứt phá tiếp theo./.
Bài 1: Bình minh của nền quản trị hiện đại: Trao quyền kiến tạo, gặt hái niềm tin
Bài 2: Sau một năm vận hành chính quyền địa phương hai cấp: Những điểm nghẽn đã lộ diện
Bài 3: Giải mã điểm nghẽn, kiến tạo năng lực hệ thống và ánh sáng sáng tạo từ cơ sở để bứt phá