Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang mở rộng nhanh, tạo thuận tiện cho du khách quốc tế tại Việt Nam và người Việt Nam khi thanh toán ở nước ngoài. Để hạ tầng này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là mở rộng điểm chấp nhận, giảm chi phí và bảo đảm an toàn cho người sử dụng.
Tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức chiều 25/9, các chuyên gia cho rằng thanh toán số ngày càng trở thành một phần của đời sống kinh tế.
Theo Ngân hàng Nhà nước, trong 8 tháng năm 2026, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Riêng thanh toán qua mã QR đạt 311 triệu giao dịch, giá trị 274,2 nghìn tỷ đồng, tăng tương ứng 6,66% và 25,85%.
Giao dịch xuyên biên giới tăng mạnh
Theo NAPAS, trong 8 tháng năm 2026, số lượng giao dịch của du khách Thái Lan, Lào và Campuchia tại Việt Nam tăng 8 lần, giá trị tăng 6 lần so với cùng kỳ năm 2025. Ở chiều ngược lại, giao dịch của người Việt Nam tại ba thị trường này tăng 5 lần về số lượng và 4 lần về giá trị.
Với Trung Quốc, NAPAS công bố dịch vụ qua kết nối với UPI vào tháng 12/2025, Alipay vào tháng 4/2026 và Weixin Pay vào tháng 8/2026. Đến tháng 8/2026, giao dịch của du khách Trung Quốc sử dụng ứng dụng thanh toán của Trung Quốc để quét mã VietQRGlobal tại Việt Nam tăng gấp 3 lần về số lượng và gấp 4 lần về giá trị so với tháng 4/2026.
NAPAS cũng đã hoàn thành kết nối với Singapore cho cả hai chiều thanh toán. Đối với Hàn Quốc, dịch vụ dành cho khách hàng Hàn Quốc thanh toán tại Việt Nam đã hoàn tất và sẽ tiếp tục mở rộng chiều ngược lại. Như vậy, NAPAS đã triển khai kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với sáu quốc gia trong khu vực và châu Á.
Không chỉ tạo thuận tiện cho người dùng, kết nối thanh toán còn có thể góp phần giảm chi phí giao dịch. Các giao dịch được xử lý trực tiếp giữa hai đồng bản tệ thông qua hạ tầng quyết toán của các bên tham gia, qua đó góp phần giảm chi phí chuyển đổi ngoại tệ.
Đối với các điểm chấp nhận thanh toán, mức phí qua VietQRGlobal dự kiến khoảng 1,5% giá trị giao dịch, so với mức 2,4-3% của các loại thẻ quốc tế phát hành ngoài Việt Nam. Theo đó, chi phí có thể thấp hơn khoảng 37,5-50%.
Ông Phạm Văn Thủy, Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, đánh giá thanh toán xuyên biên giới có thể cải thiện trải nghiệm của du khách nhờ giao dịch nhanh, đơn giản và an toàn, đồng thời tác động đến khả năng tăng chi tiêu.
Đối với doanh nghiệp, phương thức này giúp giảm chi phí kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, hạn chế rủi ro thất thoát, gian lận và rút ngắn thời gian đối soát. Với cơ quan quản lý, thanh toán số hỗ trợ kiểm soát lượng tiền mặt phát hành và chống thất thoát về thuế.
Ngân hàng Nhà nước đang thúc đẩy hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR với một số quốc gia trong khu vực và các đối tác quan trọng, tạo thêm lựa chọn cho người dân, du khách và giúp doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, tiếp cận khách hàng quốc tế.
Tuy nhiên, mở rộng số thị trường kết nối chưa phải đích đến cuối cùng. Với bán lẻ và du lịch, hạ tầng chỉ phát huy giá trị khi khách hàng sử dụng được dịch vụ tại nơi phát sinh nhu cầu, với chi phí hợp lý và quyền lợi được bảo vệ.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng nhấn mạnh, kết nối hạ tầng là điểm khởi đầu, còn kết nối kinh tế mới là mục tiêu cần hướng tới. Phát triển thanh toán bán lẻ xuyên biên giới cần gắn với dòng chảy du lịch, bán lẻ, thương mại, dịch vụ và mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh tiếp cận khách hàng quốc tế.
Theo Phó Thống đốc, việc mở rộng kết nối cần xuất phát từ nhu cầu kinh tế thực, gắn với du lịch, thương mại, đầu tư và nhu cầu thanh toán giữa Việt Nam với từng quốc gia, vùng lãnh thổ. Trọng tâm cần chuyển từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”, được đánh giá qua mức độ sử dụng thực tế, độ phủ đơn vị chấp nhận thanh toán, chất lượng dịch vụ, chi phí và giá trị mang lại.
Mở rộng điểm chấp nhận
Từ định hướng này, mở rộng mạng lưới chấp nhận thanh toán tại trung tâm thương mại, khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng và hộ kinh doanh là nhiệm vụ thiết thực.
Ông Nguyễn Đăng Hùng - Phó Tổng Giám đốc NAPAS cho biết mô hình một kết nối nội địa có thể mở ra nhiều thị trường quốc tế dựa trên năng lực hệ thống, tiêu chuẩn được chuẩn hóa và chính sách kinh doanh. Hai mục tiêu tiếp theo là mở rộng điểm chấp nhận và thúc đẩy sử dụng dịch vụ.
Theo lãnh đạo NAPAS, các ngân hàng, trung gian thanh toán và mạng lưới bán hàng cần phối hợp mở rộng độ phủ thanh toán xuyên biên giới. Cùng với đó, các chương trình truyền thông, tiếp thị cần tăng nhận biết, kích hoạt nhu cầu và thúc đẩy tần suất sử dụng.
Bên cạnh độ phủ, thanh toán xuyên biên giới đặt ra yêu cầu về chuẩn hóa và phối hợp vận hành. Theo Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng, trải nghiệm đơn giản của khách hàng phải dựa trên cơ chế vận hành rõ ràng, an toàn, minh bạch và hiệu quả.
Khi thanh toán vượt qua biên giới, sự tham gia của nhiều chủ thể, hệ thống và khuôn khổ pháp lý khiến quản trị phức tạp hơn. Do đó, phòng chống gian lận, rửa tiền, bảo vệ dữ liệu và bảo đảm thanh toán, quyết toán thông suốt cần được coi trọng.
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho rằng thanh toán xuyên biên giới không nên chỉ được nhìn nhận như một dự án công nghệ của ngành ngân hàng mà cần đặt trong tổng thể phát triển du lịch, thương mại bán lẻ và kinh tế số.
Việt Nam hiện có hơn 2 triệu đơn vị chấp nhận thanh toán nhưng mới có khoảng 154.000 đơn vị chấp nhận kết nối thanh toán xuyên biên giới. Tỷ lệ này cho thấy dư địa mở rộng còn lớn. Nếu chỉ có kết nối kỹ thuật nhưng mạng lưới chấp nhận thanh toán chưa đủ rộng, hiệu quả của hạ tầng xuyên biên giới sẽ bị hạn chế.
Cùng với mở rộng mạng lưới, bảo đảm an toàn, minh bạch và chất lượng dịch vụ sẽ tạo nền tảng để người dân, du khách và doanh nghiệp yên tâm sử dụng.
“Kết nối hạ tầng là điểm khởi đầu, kết nối con người, doanh nghiệp là điều kiện, kết nối kinh tế mới là thế của chúng ta,” lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh./.