Trước sức ép của biến đổi khí hậu, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng, việc bảo đảm an ninh nguồn nước đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy quản lý và phương thức điều hành.
Cần cập nhật kịch bản nguồn nước định kỳ
Tại hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý Tài nguyên nước tổ chức ngày 20/10, các chuyên gia cho rằng thách thức hiện nay không chỉ nằm ở khả năng tích trữ nước, mà còn ở việc phân phối, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nước hiện có.
Bà Lý Thị Hồng Điệp - Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh nước không phải là nguồn tài nguyên vô hạn. Thực tiễn này đòi hỏi phải chuyển từ quản lý nguồn nước sang quản trị an ninh nguồn nước; từ ứng phó bị động sang chủ động dự báo, điều hòa, phân phối; từ khai thác, sử dụng đơn thuần sang khai thác hiệu quả, tiết kiệm, gắn với bảo vệ và phục hồi nguồn nước.
Theo bà Điệp, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã tạo lập nền tảng pháp lý quan trọng cho sự chuyển đổi trên, song một chính sách tiến bộ chỉ thực sự có giá trị khi được thực thi hiệu quả trong cuộc sống. Các quy định của luật cần được cụ thể hóa bằng cơ chế điều hành, sự phối hợp giữa các ngành, địa phương và chuyển biến thực chất trong quản lý, sử dụng nguồn nước.
Một trong những vấn đề cốt lõi là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khả năng đáp ứng của nguồn nước với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cùng một nguồn nước phải đáp ứng nhiều mục tiêu, từ sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện đến bảo vệ môi trường và duy trì dòng chảy. Khi xảy ra thiếu hụt, việc xác định thứ tự ưu tiên và phân chia nguồn nước càng trở nên phức tạp.
Mặt khác, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã thiết lập các công cụ quản trị quan trọng như kịch bản nguồn nước, cơ chế điều hòa, phân phối nước và quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để các công cụ này thực sự chi phối hoạt động khai thác, thay vì chỉ dừng ở quy định hoặc dự báo.
Làm rõ yêu cầu đó, bà Nguyễn Ngọc Hà, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, cho rằng kịch bản nguồn nước phải vượt ra khỏi chức năng dự báo đơn thuần để trở thành căn cứ trực tiếp cho điều hành, phân phối nguồn nước và xây dựng kế hoạch cấp nước của các hệ thống thủy lợi.
Theo bà Hà, những điểm nghẽn chủ yếu hiện nay liên quan đến chất lượng dữ liệu và dự báo, mức độ chi tiết của kịch bản, sự phối hợp liên ngành và năng lực tổ chức thực hiện. Dữ liệu thiếu, chậm hoặc không tin cậy sẽ khiến kịch bản chỉ dừng ở mức tham khảo. Trong khi đó, ngay cả khi nguồn nước toàn lưu vực tương đối ổn định, một tiểu lưu vực, cụm hồ hoặc khu vực khai thác tập trung vẫn có thể rơi vào tình trạng thiếu nước cục bộ. Do đó, cần cập nhật kịch bản định kỳ, chi tiết hóa đến tiểu lưu vực và vùng khai thác tập trung; kết nối kịch bản với kế hoạch cấp nước; tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các chủ hồ, ngành thủy điện, thủy lợi và đơn vị cấp nước.
Trên cơ sở đó, bà Hà nhấn mạnh 4 thông điệp xuyên suốt: Chủ động điều hành theo kịch bản; kết nối kịch bản với kế hoạch cấp nước và lịch thời vụ; phối hợp vận hành liên hồ đa mục tiêu; ưu tiên nước sinh hoạt và duy trì dòng chảy tối thiểu. Đây cũng là cách để chuyển những dự báo về nguồn nước thành quyết định cụ thể, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sinh kế của người dân.
Hiện đại hóa vận hành, tăng liên kết dữ liệu
Cùng với hoàn thiện cơ chế điều hành, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực vận hành hồ chứa cũng được xác định là điều kiện quan trọng để tăng hiệu quả quản trị tài nguyên nước. Theo Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, ứng dụng khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa và khai thác bền vững tài nguyên nước.
Tuy nhiên, theo ông Dũng, một trong những hạn chế đáng chú ý là năng lực quan trắc và kết nối dữ liệu còn chưa đáp ứng yêu cầu. Hiện chỉ khoảng 17% hồ chứa được trang bị thiết bị khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động. Dữ liệu giữa các ngành, các hồ còn phân tán, thiếu chuẩn kết nối thống nhất; năng lực ứng dụng công nghệ và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật cũng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.
Những hạn chế trên ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng dự báo, tính toán và đưa ra quyết định vận hành kịp thời, nhất là khi các hồ chứa phải đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu như cấp nước, phát điện, phòng lũ và bảo đảm an toàn cho vùng hạ du.
Từ thực tế đó, ông Dũng đề xuất chuyển hướng nghiên cứu khoa học công nghệ từ những nhiệm vụ riêng lẻ sang giải quyết các “bài toán lớn” trên từng lưu vực sông cụ thể. Đồng thời, cần có cơ chế bảo đảm kinh phí thường xuyên để duy trì, cập nhật dữ liệu, bảo trì và nâng cấp các mô hình sau khi kết thúc đề tài, dự án nghiên cứu.
Một giải pháp trọng tâm là phát triển hạ tầng số quốc gia và hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) thống nhất, kết hợp công nghệ bản sao số (Digital Twin) để phục vụ vận hành hồ chứa, liên hồ chứa. Các hệ thống cần được kết nối với hệ sinh thái số ngành nước, trong đó có VN-WIS, bảo đảm các chủ hồ thủy lợi, thủy điện kết nối, chia sẻ dữ liệu quan trắc theo thời gian thực với trung tâm điều hành lưu vực sông.
Bên cạnh đầu tư công nghệ, ông Dũng cũng kiến nghị xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thống nhất về an toàn đập và hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng cho hồ chứa, không phân biệt thủy điện hay thủy lợi.
Đồng thời, cần tăng cường đào tạo thực hành cho cán bộ quản lý, công nhân vận hành hồ chứa trên các mô hình số và công cụ mô phỏng; phát huy vai trò tư vấn, phản biện độc lập của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong thẩm định an toàn đập, đánh giá quy trình vận hành và kiểm định hệ thống hỗ trợ ra quyết định.
Bà Lý Thị Hồng Điệp cũng nhấn mạnh kịch bản nguồn nước phải trở thành căn cứ xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước, tổ chức sản xuất và vận hành công trình; quy trình vận hành liên hồ chứa cần đáp ứng yêu cầu sử dụng nước đa mục tiêu, hài hòa lợi ích giữa thượng nguồn và hạ du, giữa phát điện với cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp và bảo vệ môi trường. Hệ thống thủy lợi cũng cần phát huy tốt hơn vai trò tích trữ, điều hòa và phân phối nước, chủ động thích ứng.
Để hiện thực hóa yêu cầu đó, theo bà Điệp cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể; đồng thời tăng cường năng lực dự báo, giám sát và vận hành công trình. Đây là những điều kiện quan trọng để chuyển từ quản lý phân tán sang điều hành tổng hợp theo lưu vực sông.
Thực tế thời gian qua cho thấy bảo đảm an ninh nguồn nước không thể chỉ dựa vào một công cụ hay giải pháp riêng lẻ. Yêu cầu đặt ra là kết hợp đồng bộ giữa hành lang pháp lý, kịch bản nguồn nước, cơ chế điều hòa phân phối, công nghệ vận hành và sự phối hợp giữa các ngành, địa phương.
Khi dự báo được chuyển hóa thành kế hoạch, dữ liệu trở thành căn cứ ra quyết định và trách nhiệm thực thi được xác định rõ ràng, nguồn nước có thể được khai thác, sử dụng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển. Như bà Điệp nhấn mạnh, thước đo cuối cùng của một chính sách không chỉ là sự đầy đủ của hệ thống văn bản, mà còn là hiệu quả thực thi và những lợi ích thiết thực mang lại cho người dân, doanh nghiệp và sự phát triển của đất nước./.