Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số được xác định là hai động lực chiến lược của tăng trưởng, hạ tầng số và dữ liệu đang trở thành nền tảng quan trọng để tái cấu trúc mô hình phát triển của ngành nông nghiệp và môi trường. Không chỉ giúp tối ưu chi phí, tiết kiệm năng lượng, kiểm soát môi trường hay nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng, dữ liệu còn được xem là “tài sản chiến lược,” tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp và quốc gia trong tiến trình phát triển bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Định hướng trên cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh dựa trên dữ liệu và công nghệ số trong lĩnh vực nông nghiệp.
“Tài sản chiến lược” của nền kinh tế xanh
Nếu trước đây, tăng trưởng của ngành nông nghiệp và môi trường chủ yếu dựa vào tài nguyên, lao động và mở rộng quy mô sản xuất, thì hiện nay mô hình phát triển đang chuyển mạnh sang dựa trên công nghệ và dữ liệu.
Trong xu thế đó, hạ tầng số cùng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), blockchain, bản sao số hay điện toán đám mây đang đóng vai trò nền tảng thúc đẩy chuyển đổi xanh.
Thực tế trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường cho thấy, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không còn là hai quá trình tách biệt mà đang bổ trợ trực tiếp cho nhau. Nếu chuyển đổi xanh hướng tới giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và bảo vệ hệ sinh thái, thì hạ tầng số và dữ liệu chính là công cụ để đo lường, giám sát và tối ưu hóa toàn bộ quá trình đó.
Điểm cốt lõi là dữ liệu đã vượt ra ngoài vai trò hỗ trợ quản lý đơn thuần để trở thành “tài sản chiến lược.” Nhờ dữ liệu, các hoạt động sản xuất có thể được theo dõi theo thời gian thực, từ đó tối ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và vật tư đầu vào. Đồng thời, hạ tầng số giúp kiểm soát toàn bộ vòng đời sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Ông Vũ Ngọc Tuấn, Phó Trưởng phòng Công nghệ số (Cục Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết đối với doanh nghiệp, đặc biệt trong chế biến và thương mại, dữ liệu mang lại lợi ích rõ rệt.
Theo ông Tuấn, ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp giảm từ 15-20% chi phí đầu tư, mà còn giúp tiết kiệm năng lượng và nhân công. Quan trọng hơn, dữ liệu giúp minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng. Từ sản xuất đến tiêu dùng, mọi thông tin đều được số hóa và truy xuất dễ dàng, trở thành “tấm vé thông hành” để nông sản tiếp cận các thị trường khó tính như EU hay Nhật Bản.
Đơn cử như trong sản xuất, ông Tuấn cho hay IoT cho phép giám sát liên tục điều kiện canh tác, giúp tối ưu quy trình và giảm 15-25% chi phí vật tư. AI hỗ trợ phát hiện sớm dịch bệnh, dự báo sản lượng và tối ưu chuỗi cung ứng. Công nghệ blockchain đảm bảo truy xuất nguồn gốc, còn hệ thống MRV giúp đo lường phát thải và kết nối thị trường carbon…
Tuy vậy, ông Tuấn cũng lưu ý để hạ tầng số và dữ liệu thực sự trở thành động lực tăng trưởng, cần có những điều kiện đồng bộ về thể chế và chính sách.
Theo ông Tuấn, chuyển đổi số không thể tách rời hành lang pháp lý. Hiện nay, các chính sách liên quan đến dữ liệu, giao dịch điện tử và công nghệ số đang từng bước được hoàn thiện. Trong đó, chiến lược chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh tế số lên 10% vào năm 2030 và 20% vào năm 2035, đồng thời hướng tới quản lý tài nguyên dựa trên dữ liệu thời gian thực. Mặt khác, kiến trúc số ngành đang được xây dựng theo hướng thống nhất, liên thông và kết nối với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia.
Bên cạnh thể chế, việc chuẩn hóa dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực cũng là yếu tố then chốt. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và chia sẻ hiệu quả, các hệ thống có thể kết nối với nhau, tạo thành một hệ sinh thái số hoàn chỉnh. Trong dài hạn, dữ liệu sẽ trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của ngành nông nghiệp và môi trường trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu thống nhất
Theo Cục trưởng Cục Chuyển đổi số Lê Phú Hà, ngay từ đầu năm 2026, công tác hoàn thiện thể chế và chính sách đã được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ngành nông nghiệp và môi trường. Theo đó, hàng loạt văn bản quan trọng đã được các đơn vị tham mưu để bộ ban hành, từ kế hoạch chuyển đổi số năm 2026, kế hoạch giai đoạn 2026-2030 cho tới việc thành lập Ban Chỉ đạo về dữ liệu của bộ cùng các quy chế hoạt động liên quan.
Song song với đó, ngành cũng đang triển khai xây dựng khung quản trị dữ liệu, từ điển dữ liệu và danh mục dữ liệu toàn ngành nhằm hình thành hệ thống quản trị thống nhất - nền tảng cốt lõi của chuyển đổi số.
Thực tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai 25 hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quy mô toàn ngành. Trong đó, 4 hệ thống đã đi vào khai thác, số còn lại tiếp tục được xây dựng theo định hướng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung.” Đây là tiêu chí quan trọng để đảm bảo dữ liệu có chất lượng cao, phục vụ hiệu quả công tác quản lý và điều hành.
Theo Cục Chuyển đổi số, một trong những điểm sáng là việc kết nối và chia sẻ dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành đồng bộ 12 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, tạo nền tảng cho hệ sinh thái dữ liệu số liên thông. Đặc biệt, việc kết nối với Bộ Công an vào tháng 4/2026 được xem là bước tiến quan trọng trong xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất phục vụ quản trị dựa trên dữ liệu.
Ngoài ra, việc triển khai Đề án 06 cũng tiếp tục được đẩy mạnh. Các nền tảng số dùng chung như quản lý văn bản điện tử, thư điện tử công vụ, họp trực tuyến, định danh, xác thực người dùng cũng đang được duy trì ổn định.
Tuy vậy, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung cũng nhìn nhận thực tế triển khai cho thấy còn nhiều khó khăn, không chỉ ở việc kết nối liên thông bên ngoài, mà ngay trong nội bộ cũng đã phát sinh không ít vướng mắc. Các lĩnh vực quản lý đa dạng, đơn vị tham gia nhiều, nhu cầu dữ liệu lớn khiến việc phối hợp, chia sẻ thông tin trở nên phức tạp.
Theo đó, ông Trung yêu cầu các đơn vị phải thay đổi tư duy và cách làm. Nguyên tắc xuyên suốt là xây dựng hệ thống theo hướng đồng bộ, dùng chung, tránh tình trạng mỗi nơi làm một kiểu, dẫn đến "cát cứ" dữ liệu. Việc xác định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm điều phối, hướng dẫn là yếu tố then chốt để tạo sự thống nhất trong toàn ngành.
Bên cạnh đó, hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được coi là nền tảng để đảm bảo dữ liệu có thể kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả. Việc kết nối với các hệ thống quốc gia phải được thực hiện bài bản.
Đối với hạ tầng và công nghệ, Thứ trưởng Hoàng Trung yêu cầu Cục Chuyển đổi số tập trung đầu tư có trọng tâm, tránh dàn trải, đồng thời chủ động huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác. Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật hay bản sao số cần được nghiên cứu, ứng dụng phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đảm bảo hiệu quả đầu tư.
Ngoài ra, đại diện lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời phát huy vai trò đầu mối của Cục Chuyển đổi số trong việc hướng dẫn, hỗ trợ các đơn vị và địa phương. Những khó khăn, vướng mắc phát sinh cần được chủ động báo cáo, đề xuất giải pháp tháo gỡ kịp thời.
Ông Trung nhấn mạnh chuyển đổi số là quá trình lâu dài, không thể làm trong thời gian ngắn, nhưng đã triển khai thì phải làm đến nơi đến chốn, có sản phẩm cụ thể và đo đếm được. Vì vậy, Cục Chuyển đổi số cần phải tập trung nguồn lực, triển khai đồng bộ các giải pháp để tạo ra những kết quả thực chất, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển trong giai đoạn mới./.
Đề nghị gỡ "nút thắt" trong kiểm nghiệm, thúc đẩy xuất khẩu sầu riêng và nông sản
Đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo quyết liệt các sở, ngành rà soát toàn diện, tháo gỡ ngay các vướng mắc trong sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói và lưu thông nông sản.