Gác chuông chùa Keo - kiến trúc gỗ đặc sắc gần 400 năm tuổi tại Hưng Yên

Trong tiếng chuông ngân vang giữa không gian thanh tịnh, gác chuông chùa Keo hiện diện như một biểu tượng của vẻ đẹp kiến trúc, chiều sâu văn hóa và sức sống bền bỉ của di sản trên vùng đất Hưng Yên.

Lễ hội chùa Keo. (Ảnh: Vietnam+)
Lễ hội chùa Keo. (Ảnh: Vietnam+)

Nằm trong quần thể Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo, thuộc xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên, gác chuông là công trình kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Hậu Lê.

Gần 400 năm tồn tại cùng những biến thiên của lịch sử, tòa gác chuông vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính, thanh thoát và bền vững. Không chỉ là điểm nhấn nổi bật của chùa Keo, công trình còn được xem là một trong những kiệt tác tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam.

Tuyệt tác kiến trúc gỗ giữa không gian cổ kính chùa Keo

Chùa Keo, tên chữ là Thần Quang Tự, gắn với Thiền sư Dương Không Lộ, vị cao tăng thời Lý có công dựng chùa và truyền bá Phật pháp. Ngôi chùa được khởi công xây dựng vào tháng 8/1630, hoàn thành năm 1632 dưới thời Lê Trung Hưng.

Với bố cục kiến trúc “nội nhị công, ngoại nhất quốc,” cùng lối thờ “tiền Phật-hậu Thánh,” chùa Keo là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo cổ còn bảo tồn tương đối nguyên vẹn những giá trị truyền thống.

Năm 2012, chùa Keo được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Quần thể di tích gồm nhiều công trình kiến trúc gỗ, đá và gạch, tạo nên một không gian văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ.

3.jpg
Gác chuông chùa Keo, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Vietnam+)

Trong tổng thể ấy, gác chuông nằm ở cuối trục thần đạo, phía sau khu thờ tự, tạo điểm kết thúc trang nghiêm cho không gian kiến trúc. Khác với nhiều ngôi chùa thường đặt gác chuông gần cổng tam quan, vị trí của gác chuông chùa Keo được tổ chức theo một trục kiến trúc xuyên suốt, góp phần tạo nên vẻ cân đối, hài hòa cho toàn bộ quần thể.

Được dựng hoàn toàn bằng gỗ, gác chuông có chiều cao 11,04m, gồm ba tầng, 12 mái, được thiết kế theo kiểu “chồng diêm, cổ các.” Năm 2007, công trình được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục là gác chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam.

Nhìn từ xa, gác chuông tựa như một bông hoa sen khổng lồ đang bung nở giữa không gian xanh mát của làng quê. Ba tầng mái xếp chồng lên nhau, mỗi tầng có bốn mái tỏa ra bốn hướng. Những đầu đao vươn cao, uốn cong mềm mại, tạo nên vẻ thanh thoát cho một công trình có quy mô khá đồ sộ. Mái được lợp ngói nam truyền thống, các bờ nóc, bờ dải và góc mái được tạo hình hài hòa, mang đậm dấu ấn mỹ thuật kiến trúc cổ.

Điều đặc biệt là vẻ đẹp của gác chuông không đến từ sự cầu kỳ phô trương mà được tạo nên bởi tỷ lệ kiến trúc cân đối, sự kết hợp tinh tế giữa các tầng mái, hệ thống cột, xà và những chi tiết chạm khắc. Từng đường nét đều thể hiện tư duy thẩm mỹ cùng khả năng tính toán chính xác của những người thợ thủ công thế kỷ 17.

Anh Nguyễn Toàn Thắng, du khách đến từ phường Trần Lãm chia sẻ rằng trước đây ngày còn nhỏ anh chỉ biết đến gác chuông chùa Keo qua sách báo và truyền hình. Khi trực tiếp đến tham quan, anh thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của công trình. Từ quy mô kiến trúc đến những đường nét chạm khắc tinh xảo, đặc biệt là các khớp mộng gỗ bền bỉ với thời gian, tất cả đều cho thấy sự tài hoa và trí tuệ của người xưa.

Kỹ thuật kết cấu gỗ độc đáo, giá trị vượt thời gian

Nếu vẻ đẹp bên ngoài khiến du khách ngưỡng mộ thì hệ thống kết cấu bên trong mới thực sự làm nên giá trị đặc biệt của gác chuông chùa Keo.

Công trình được dựng trên mặt bằng gần vuông, tầng một lát gạch, các tầng phía trên có diện tích thu nhỏ dần và được lát bằng ván gỗ. Cách tổ chức không gian giữa các tầng vừa bảo đảm sự cân đối, vừa tạo nên kết cấu vững chắc cho toàn bộ công trình.

Bộ khung chịu lực gồm bốn cột cái lớn và 12 cột quân bao quanh. Các cột cái được tạo dáng thu nhỏ dần về phía trên, đặt trên những tảng đá tảng có hình thức đặc biệt. Đáng chú ý, cột cái ở tầng một và tầng hai được làm bằng những thân gỗ liền, vươn qua các mặt sàn để tiếp tục nâng đỡ hệ thống kết cấu phía trên. Cách tổ chức này thể hiện sự tính toán công phu trong việc phân bổ lực, bảo đảm độ ổn định cho tòa gác chuông.

1-5451.jpg
Chuông đồng niên đại Cảnh Thịnh thứ tư (1796), treo tại tầng ba Gác chuông. (Ảnh: Vietnam+)

Điểm đặc sắc nhất của công trình là kỹ thuật liên kết các cấu kiện bằng hệ thống mộng gỗ truyền thống, không sử dụng đinh kim loại. Những thanh gỗ được gia công chính xác, liên kết với nhau thông qua các mộng ngang, mộng dọc, tạo thành bộ khung thống nhất, có khả năng chịu lực và thích ứng với những biến đổi của thời tiết qua nhiều thế kỷ.

Đặc biệt, để nâng đỡ hệ thống mái ở tầng hai và tầng ba, các nghệ nhân xưa đã sử dụng kết cấu “chồng đấu-tiếp rui.” Đây là kỹ thuật kết hợp các cụm đấu củng với hệ thống rui, rui bay vươn ra phía ngoài, tạo thành nhiều lớp đỡ mái liên tiếp. Các cụm đấu được bố trí công phu, vừa có tác dụng chịu lực, vừa tạo nên những đường nét kiến trúc đặc trưng.

Kết cấu này được sử dụng với mật độ lớn ở các tầng cao, là kỹ thuật phức tạp và hiếm gặp trong kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam. Qua đó, gác chuông chùa Keo không chỉ thể hiện trình độ tay nghề điêu luyện của những nghệ nhân xưa mà còn phản ánh sự phát triển của tư duy kỹ thuật, kiến trúc trong giai đoạn Hậu Lê.

Bên cạnh kết cấu gỗ, nghệ thuật chạm khắc trang trí cũng góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ đặc sắc cho công trình. Những họa tiết hoa sen, hình rồng và các hoa văn truyền thống được thể hiện tinh tế trên các cấu kiện kiến trúc. Ván gió, diềm mái, các ô trang trí và hệ thống cửa võng được tạo tác công phu, vừa tăng tính thẩm mỹ, vừa tạo nên sự thống nhất giữa các tầng.

Đặc biệt, hình tượng hoa sen xuất hiện trong nhiều chi tiết trang trí, gợi liên tưởng đến biểu tượng thanh khiết trong văn hóa Phật giáo. Những cánh sen cách điệu được bố trí hài hòa với các đường nét kiến trúc, khiến tòa gác chuông vừa mang vẻ uy nghiêm, vừa mềm mại, thanh nhã.

Sự kết hợp giữa kỹ thuật kết cấu và nghệ thuật trang trí đã tạo nên một công trình có giá trị đặc biệt. Mỗi bộ phận, từ cột, xà, đấu củng đến rui mái, đều được tính toán và chế tác chính xác, tạo thành một tổng thể kiến trúc hài hòa, bền vững.

Tiếng chuông ngân vang, lưu giữ hồn di sản

Không chỉ là một tuyệt tác kiến trúc, gác chuông chùa Keo còn lưu giữ những pháp khí quý giá gắn với đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt tâm linh của cộng đồng địa phương.

Hiện nay, tại gác chuông còn bảo tồn khánh đá và hệ thống ba quả chuông đồng có niên đại khác nhau. Trong đó, quả chuông lớn được đúc năm 1698, hai quả chuông nhỏ hơn có niên đại năm 1796. Những hiện vật này không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật, lịch sử mà còn phản ánh quá trình tồn tại, phát triển của ngôi chùa qua nhiều thế hệ.

2-7839.jpg
Khánh đá có niên đại thời Nguyễn, treo tại tầng một Gác chuông. (Ảnh: Vietnam+)

Khánh đá được đặt ở tầng một, mang hình dáng truyền thống, có khả năng tạo ra những âm thanh khác nhau tùy theo vị trí tác động. Các quả chuông đồng được bố trí ở những tầng trên, tạo nên hệ thống pháp khí đặc sắc trong không gian gác chuông.

Theo Ban Quản lý di tích chùa Keo, chuông ở gác chuông mỗi năm chỉ được thỉnh hai lần. Lần thứ nhất vào thời khắc chuyển giao năm mới, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên. Lần thứ hai vào dịp đầu hội thu, gắn với những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của địa phương.

Người được lựa chọn thực hiện nghi thức thỉnh chuông phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định về phẩm hạnh, gia đình và đời sống. Đây là phong tục được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ, thể hiện sự thành kính đối với không gian linh thiêng và những giá trị văn hóa của di tích.

Đối với người dân địa phương, gác chuông không chỉ là một công trình kiến trúc cổ mà còn là biểu tượng gắn bó với đời sống tinh thần, niềm tự hào về truyền thống văn hóa quê hương. Hình ảnh ba tầng mái cong vút đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm hội họa, nhiếp ảnh, thơ ca, góp phần lan tỏa vẻ đẹp của chùa Keo đến đông đảo công chúng.

Gần bốn thế kỷ đã trôi qua, giữa những đổi thay của thời gian, gác chuông vẫn sừng sững trong không gian cổ kính của chùa Keo. Những cấu kiện gỗ, hệ thống mộng liên kết, các tầng mái cùng những đường nét chạm khắc tinh xảo vẫn kể câu chuyện về tài năng, trí tuệ và tâm huyết của những người thợ thủ công Việt Nam thời Hậu Lê.

Ngày nay, gác chuông không chỉ là điểm nhấn thu hút du khách khi đến với Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo mà còn là một minh chứng quý giá cho lịch sử phát triển của kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam. Việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị công trình vì thế không chỉ là trách nhiệm đối với một di tích lịch sử mà còn là sự tiếp nối, trao truyền những giá trị văn hóa của cha ông cho các thế hệ mai sau.

Trong tiếng chuông ngân vang giữa không gian thanh tịnh, gác chuông chùa Keo vẫn hiện diện như một biểu tượng của vẻ đẹp kiến trúc, chiều sâu văn hóa và sức sống bền bỉ của di sản Việt Nam trên vùng đất Hưng Yên./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Vịnh Hạ Long. (Ảnh minh họa: Minh Đức/TTXVN)

Quảng Ninh khai mở tiềm năng thị trường du lịch Halal

Việc Quảng Ninh tăng cường hợp tác với Indonesia và các quốc gia Hồi giáo được kỳ vọng sẽ mở ra thị trường khách quốc tế mới, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh du lịch địa phương.