Khuê Văn Các - Hồn cốt văn hiến của Thủ đô nghìn năm tuổi

Từ một gác nhỏ được xây dựng dưới triều Nguyễn, Khuê Văn Các đã trở thành biểu tượng chính thức của Thủ đô Hà Nội, đại diện cho chiều sâu văn hóa và bản sắc của vùng đất nghìn năm văn hiến.

Khuê Văn Các - một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội nằm trong Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu-Quốc Tử Giám. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)
Khuê Văn Các - một trong những biểu tượng của thủ đô Hà Nội nằm trong Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Văn Miếu-Quốc Tử Giám. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Tọa lạc trong quần thể Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các không chỉ là công trình kiến trúc đặc sắc mà còn kết tinh những giá trị về văn chương, tri thức và truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam.

Trải qua hơn hai thế kỷ, từ một gác nhỏ được xây dựng dưới triều Nguyễn, công trình đã trở thành biểu tượng chính thức của Thủ đô Hà Nội, đại diện cho chiều sâu văn hóa và bản sắc của vùng đất nghìn năm văn hiến.

Dấu ấn kiến trúc độc đáo trong không gian Văn Miếu

Giữa quần thể kiến trúc cổ kính của Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các nổi bật với dáng vẻ thanh thoát, cân đối và hệ mái chồng tầng đặc trưng. Dù không có quy mô đồ sộ, công trình vẫn tạo nên điểm nhấn kiến trúc nhờ sự hài hòa giữa hình khối, đường nét và cảnh quan xung quanh.

Khuê Văn Các được xây dựng năm 1805 dưới triều Nguyễn, do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho dựng tại Văn Miếu, phía ngoài khu vực giếng Thiên Quang.

Thời điểm này, Quốc Tử Giám ở Thăng Long đã không còn giữ vai trò trung tâm đào tạo như trước sau khi nhà Nguyễn chuyển Quốc Tử Giám vào Huế. Tuy nhiên, Văn Miếu vẫn được duy trì như một không gian thờ Khổng Tử, tôn vinh đạo học và lưu giữ những giá trị gắn với truyền thống giáo dục của kinh đô Thăng Long.

Sự ra đời của Khuê Văn Các góp phần hoàn thiện không gian kiến trúc của Di tích, đồng thời thể hiện quan niệm coi trọng văn chương, học vấn và trí tuệ của người xưa.

ttxvn_khue-van-cac-2.jpg
Khuê Văn các trong di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám (ảnh chụp năm 1998). (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Tên gọi Khuê Văn Các gắn với sao Khuê trong văn hóa phương Đông, vốn được xem là biểu tượng của văn chương và học thuật. Vì vậy, công trình mang ý nghĩa tôn vinh tri thức, khuyến khích việc học và đề cao những giá trị tinh thần được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Về kết cấu, Khuê Văn Các là một lầu vuông hai tầng, tám mái, đặt trên nền gạch vuông. Tầng dưới gồm bốn trụ gạch hình vuông, tạo thành khoảng không gian mở ở bốn phía. Tầng trên là kiến trúc gỗ, có sàn và hệ mái cong lợp ngói.

Sự kết hợp giữa phần đế vững chắc với tầng lầu thanh thoát tạo nên tỷ lệ hài hòa, vừa thể hiện sự trang trọng, vừa giữ được nét nhẹ nhàng của một công trình gắn với văn chương.

Điểm nhận diện nổi bật nhất của Khuê Văn Các là bốn cửa sổ hình tròn trên bốn mặt tầng gác. Những thanh gỗ tỏa ra từ tâm tạo hình như những tia sáng của sao Khuê, gắn với ý nghĩa biểu trưng của công trình.

Trên gác treo biển sơn son thếp vàng đề ba chữ Hán “Khuê Văn Các.” Hệ diềm gỗ được chạm trổ tinh vi, lan can hình con tiện cùng các câu đối trên bốn mặt góp phần tạo nên vẻ đẹp kiến trúc đặc trưng.

Không chỉ có giá trị ở hình thức kiến trúc, Khuê Văn Các còn được tôn lên bởi vị trí trong tổng thể di tích. Công trình nằm trên trục chính, phía sau Đại Trung Môn, phía trước giếng Thiên Quang và hai dãy Bia Tiến sỹ. Hai bên, sát tường bao, là cửa Bi Văn và Súc Văn, với tên gọi gắn liền những quan niệm về vẻ đẹp và sự hàm súc của văn chương.

Sự kết hợp giữa các công trình tạo nên một chỉnh thể không gian giàu ý nghĩa biểu tượng, trong đó văn chương, học vấn và đạo học được đặt ở vị trí trung tâm. Qua đó, kiến trúc Khuê Văn Các không chỉ phản ánh trình độ nghệ thuật xây dựng mà còn chuyển tải tư tưởng đề cao tri thức, trọng dụng nhân tài của người Việt.

Từ truyền thống hiếu học đến biểu tượng của Thủ đô

Giá trị của Khuê Văn Các cần được nhìn nhận trong mối liên hệ với lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Năm 1070, dưới triều vua Lý Thánh Tông, Văn Miếu được xây dựng để thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết Nho học. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, đặt nền móng cho thiết chế giáo dục bậc cao của nhà nước phong kiến Việt Nam.

Trải qua nhiều thế kỷ, nơi đây gắn liền với quá trình đào tạo nhân tài, phát triển nền giáo dục Nho học và truyền thống khoa cử của dân tộc. Những dấu tích lịch sử còn lưu giữ trong di tích phản ánh quan niệm coi trọng việc học, tôn sư trọng đạo và chính sách tuyển chọn người tài phục vụ đất nước.

ttxvn_van-mieu-quoc-tu-giam-1.jpg
Văn Miếu-Quốc Tử Giám từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa tiêu biểu của Thủ đô. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Nổi bật trong quần thể là hệ thống 82 Bia Tiến sỹ, được dựng từ năm 1484-1779, ghi danh những người đỗ đại khoa trong các kỳ thi được lưu lại tại Văn Miếu.

Nếu hệ thống bia đá là chứng tích trực tiếp về lịch sử khoa cử và chính sách trọng dụng nhân tài thì Khuê Văn Các lại mang ý nghĩa biểu trưng cho khát vọng tri thức, sự tỏa sáng của văn chương và học thuật.

Mặc dù được xây dựng muộn hơn nhiều so với Văn Miếu và Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các đã góp phần làm nổi bật giá trị văn hóa của toàn bộ quần thể. Công trình trở thành điểm kết nối giữa lịch sử giáo dục, truyền thống khoa cử và quan niệm về văn hiến, qua đó thể hiện chiều sâu tư tưởng của một thiết chế giáo dục có lịch sử gần nghìn năm.

Từ một công trình trong khuôn viên Văn Miếu, hình ảnh Khuê Văn Các dần vượt ra khỏi phạm vi di tích để trở thành dấu hiệu nhận diện văn hóa của Thăng Long-Hà Nội.

Sức sống của biểu tượng này bắt nguồn từ khả năng đại diện cho những giá trị bền vững: tinh thần hiếu học, sự trân trọng trí tuệ, ý thức tôn vinh người tài và khát vọng phát triển dựa trên tri thức.

Năm 1997, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội lựa chọn hình ảnh Khuê Văn Các làm biểu tượng chính thức của Thủ đô.

Ngày 21/11/2012, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật Thủ đô, trong đó Điều 6 quy định biểu tượng của Thủ đô là hình ảnh Khuê Văn Các tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám.

Việc được lựa chọn làm biểu tượng chính thức khẳng định vị trí đặc biệt của công trình trong đời sống văn hóa Hà Nội. Hình ảnh Khuê Văn Các hiện diện trên nhiều ấn phẩm, tài liệu và trong các hoạt động quảng bá, đối ngoại, trở thành hình ảnh quen thuộc đối với người dân và du khách. Qua đó, công trình góp phần giới thiệu một Hà Nội giàu truyền thống lịch sử, coi trọng giáo dục và luôn đề cao những giá trị văn hóa lâu đời.

Không chỉ có ý nghĩa nhận diện, Khuê Văn Các còn là địa chỉ giáo dục di sản có giá trị đối với thế hệ trẻ. Thông qua việc tìm hiểu lịch sử hình thành, kiến trúc và ý nghĩa biểu tượng của công trình, học sinh, sinh viên có thêm cơ hội tiếp cận truyền thống khoa cử, tinh thần hiếu học và quan niệm trọng dụng nhân tài của cha ông. Những giá trị ấy vẫn có ý nghĩa trong xã hội hiện đại, khi tri thức và năng lực sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển.

Bảo tồn di sản, lan tỏa giá trị văn hiến

Là bộ phận quan trọng của quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các mang đồng thời giá trị kiến trúc, lịch sử và văn hóa. Vì vậy, công tác bảo tồn cần được thực hiện thường xuyên, gắn với yêu cầu gìn giữ tính toàn vẹn của công trình và không gian cảnh quan xung quanh.

Trải qua hơn hai thế kỷ, công trình chịu tác động của thời gian và điều kiện môi trường. Việc kiểm tra kết cấu, vật liệu, các chi tiết trang trí và hệ thống mái cần được chú trọng nhằm kịp thời phát hiện những dấu hiệu xuống cấp. Các hoạt động tu bổ phải tuân thủ nguyên tắc bảo tồn di tích, tôn trọng yếu tố gốc, bảo đảm giữ gìn tỷ lệ, hình thức và đặc điểm kiến trúc truyền thống.

Bên cạnh bảo tồn vật thể, việc phát huy giá trị văn hóa của Khuê Văn Các cần được chú trọng thông qua nghiên cứu, diễn giải và giáo dục di sản. Những câu chuyện về sao Khuê, ý nghĩa kiến trúc, lịch sử hình thành công trình và mối liên hệ với hệ thống Bia Tiến sỹ cần được giới thiệu sinh động, giúp du khách hiểu sâu hơn về những giá trị ẩn chứa phía sau công trình.

ttxvn_khue-van-cac-3.jpg
Các hình thức trình chiếu công nghệ và trải nghiệm số tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám đang mở thêm cách tiếp cận di sản, kết nối kiến trúc cổ kính với công chúng đương đại. (Ảnh: TTXVN)

Trong xu hướng phát triển du lịch văn hóa, việc ứng dụng công nghệ số, hệ thống thuyết minh đa ngôn ngữ và các hình thức trải nghiệm tương tác có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản.

Đặc biệt, cần tăng cường các chương trình giáo dục dành cho học sinh, sinh viên, kết hợp tham quan với tìm hiểu lịch sử giáo dục, truyền thống khoa cử và những tấm gương hiền tài trong lịch sử dân tộc.

Việc khai thác giá trị Khuê Văn Các cũng cần đặt trong mối liên kết với toàn bộ quần thể Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Sự kết nối giữa Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, 82 Bia Tiến sỹ, Đại Thành Điện và các công trình kiến trúc khác sẽ tạo nên câu chuyện di sản xuyên suốt, giúp du khách hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành, phát triển của nền giáo dục Việt Nam.

Trong quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa, hình ảnh Khuê Văn Các còn có thể tiếp tục được khai thác trong các hoạt động quảng bá, thiết kế sản phẩm văn hóa và truyền thông hình ảnh Thủ đô. Tuy nhiên, việc sử dụng biểu tượng cần bảo đảm tính trang trọng, chính xác về lịch sử và phù hợp với những giá trị văn hóa mà công trình đại diện.

Từ một gác vuông hai tầng, tám mái được xây dựng năm 1805, Khuê Văn Các đã trở thành biểu tượng tiêu biểu của Hà Nội, gắn với lịch sử giáo dục và truyền thống văn hiến của dân tộc. Giá trị của công trình không chỉ nằm ở những đường nét kiến trúc độc đáo mà còn ở tư tưởng đề cao tri thức, tôn vinh người tài được gửi gắm qua từng chi tiết.

Gìn giữ Khuê Văn Các vì thế không đơn thuần là bảo tồn một di sản kiến trúc mà còn là gìn giữ những giá trị tinh thần đã làm nên bản sắc Thủ đô. Trong hành trình phát triển hôm nay, biểu tượng ấy tiếp tục kết nối truyền thống với hiện đại, nhắc nhớ về một Hà Nội nghìn năm văn hiến luôn coi trọng tri thức, giáo dục và con người./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Khi di sản xứ Quảng cất lời cùng nghệ thuật đương đại

Khi di sản xứ Quảng cất lời cùng nghệ thuật đương đại

Tại Sự kiện Kết nối Nghệ thuật Sáng tạo Đà Nẵng (DACC 2026), những trầm tích di sản như tre nứa, tơ lụa và gốm cổ đã hồi sinh qua lăng kính đương đại, khơi dậy nguồn cảm hứng bản địa cho hành trình kiến tạo tương lai của đô thị Đà Nẵng.

Tiết mục biểu diễn nghệ thuật rối nước Việt Nam. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Phát huy bản sắc, làm giàu sức sống văn hóa Việt Nam

Từ định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW, nhiều hoạt động văn hóa cụ thể hóa chủ trương bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc, thúc đẩy sáng tạo và mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa của công chúng.