Trong hành trình hơn 25 năm công tác, Giáo sư-Tiến sỹ Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật; Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã khẳng định tầm vóc của một nhà khoa học tiêu biểu, có bề dày thành tích trong lĩnh vực kỹ thuât hạ tầng và môi trường ở Việt Nam và khu vực; đặc biệt là các công trình về công nghệ xử lý nước và nước thải tiên tiến ứng dụng màng lọc để loại bỏ các chất ô nhiễm phục vụ mục tiêu cấp nước an toàn và tái sử dụng nước sau xử lý; phát triển hệ thống nước đô thị cân bằng, bền vững thích ứng với đô thị hóa và biến đổi khí hậu.
Với định hướng nghiên cứu gắn chặt với yêu cầu thực tiễn của Việt Nam về bảo vệ môi trường, an ninh năng lượng và thích ứng biến đổi khí hậu, Giáo sư Trần Thị Việt Nga đã vinh dự được nhận Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025.
Đảm bảo khai thác, sử dụng nguồn nước bền vững
Trưởng thành trong giai đoạn đầu những năm 1990 khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, Giáo sư-Tiến sỹ Trần Thị Việt Nga đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên nước nói chung và hệ thống kỹ thuật hạ tầng nước nói riêng trong sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Qua quá trình đào tạo bài bản, liên tục trau dồi tri thức, kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực kỹ thuật cấp thoát nước và môi trường tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội, cũng như các cơ sở đào tạo quốc tế có uy tín, chị nhận thức sâu sắc việc quản lý nước và nước thải hiện nay không chỉ giới hạn trong xử lý nước ô nhiễm để cấp nước an toàn, bảo vệ môi trường.
Chị cũng hiểu rõ tầm trọng của việc duy trì sự cân bằng của vòng tuần hoàn nước tự nhiên, đảm bảo khai thác, sử dụng nguồn nước bền vững đáp ứng các mục tiêu mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh chịu tác động của biến đổi khí hậu, kết hợp tận thu được năng lượng, tài nguyên từ quá trình xử lý nước thải và bùn cặn đáp ứng nền kinh tế tuần hoàn.
Ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam vẫn còn đang ở giai đoạn bắt đầu phát triển, còn rất thiếu các giải pháp công nghệ, thiết bị, công trình đáp ứng đòi hỏi to lớn của thực tế trong lĩnh vực này.
Do đó, Giáo sư-Tiến sỹ Trần Thị Việt Nga xác định rõ hướng nghiên cứu chuyên môn sâu của mình là: Nghiên cứu phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải đạt hiệu quả xử lý cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam; Quản lý nước và chất thải bền vững định hướng đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
Hướng nghiên cứu chính của chị là về kỹ thuật xử lý nước và nước thải, tập trung vào các chủ đề: nghiên cứu phát triển và làm chủ công nghệ màng (membrane technology) trong xử lý nước và nước thải, nổi bật là công nghệ màng kỵ khí AnMBR; cải tiến và tối ưu quá trình kỵ khí để nâng cao hiệu quả phân hủy sinh học các thành phần hữu cơ, đồng thời mở ra khả năng thu hồi tài nguyên và tái tạo nguồn nguyên liệu có giá trị kinh tế từ dòng thải như khí sinh học, các axit béo hữu cơ và rượu mạch ngắn…
Hướng nghiên cứu tiếp theo là: Nghiên cứu ứng dụng các vật liệu mới từ phế thải tái chế có khả năng loại bỏ chất ô nhiễm hiệu quả như charcoal, bê tông thải, bê tông khí chưng áp (AAC), gạch làm vật liệu lọc xử lý ô nhiễm môi trường; nghiên cứu tối ưu và ứng dụng thực tế các công nghệ xử lý nước thải đã phát triển phục vụ mục tiêu bảo vệ môi trường nước và xây dựng hệ thống nước bền vững quy mô cụm dân cư và đô thị.
Dấu ấn đậm nét trong sự nghiệp của Giáo sư Trần Thị Việt Nga là việc tiên phong trong nghiên cứu phát triển, làm chủ Công nghệ Màng lọc kỵ khí (AnMBR) xử lý nước thải phù hợp với đặc điểm xã hội và khí hậu Việt Nam.
Công nghệ AnMBR do là sự kết hợp giữa quá trình sinh học kỵ khí và màng tấm phẳng đặt ngập không chỉ cho phép xử lý nước thải có hiệu quả rất cao đáp ứng các mục tiêu tái sử dụng, còn là giải pháp kỹ thuật đột phá giúp đảm bảo an ninh năng lượng; hệ thống cho phép thu hồi năng lượng sạch thông qua khí sinh học với hàm lượng mêtan lên tới 80%.
Bà và các cộng sự đã triển khai thành công nhiều dự án thực tế như hệ thống xử lý nước thải tại Ký túc xá sinh viên Đại học Xây dựng Hà Nội, cơ sở giết mổ Thịnh An (Thanh Trì, Hà Nội), trang trại chăn nuôi lợn (15.000 con) tại tỉnh Thanh Hóa; các hệ thống công nghệ này đảm bảo nước sau xử lý đáp ứng yêu cầu của các tiêu chuẩn môi trường và nhu cầu tái sử dụng, cũng như cho phép thu hồi tài nguyên, mở ra cơ hội tái tạo chất có ích từ dòng thải.
Công nghệ AnMBR cũng được chuyển giao cho công tư RSD-TECH để triển khai cho trang trại 40.000 con tại tỉnh Đắc Lắk với mục tiêu xử lý nước thải-thu hồi khí sinh học-tái sử dụng nước thải sau xử lý, với tổng quy mô đầu tư 200 triệu USD.
Thể hiện định hướng rõ rệt về phát triển hạ tầng xanh
Sự bền bỉ trong nghiên cứu của Giáo sư Trần Thị Việt Nga được cụ thể hóa bằng những con số ấn tượng. Bà đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ Khoa học-Công nghệ các cấp, trong đó làm chủ nhiệm 14 đề tài (có 2 đề tài cấp Nhà nước, 6 đề tài cấp Bộ, 3 đề tài hợp tác quốc tế do Chính phủ Nhật Bản, Liên Bang Đức và chính phủ Anh tài trợ).
Hiện nay, Giáo sư Nga đang chủ trì thực hiện dự án quốc tế SATREPS sử dụng nguồn kinh phi ODA của Nhật Bản (JICA/JST), thực hiện trong giai đoạn 2023-2028, để phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm cho Việt Nam.
Giáo sư Nga cũng chủ trì thực hiện đề án Phục hồi hệ thống sông nội đô (sông Tô lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu) đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội tới năm 2030, tầm nhìn 2045.
Đề án được xây dựng dựa trên cách tiếp cận tiếp cận tổng hợp; xem xét toàn bộ các nguồn nước trong lưu vực sông nội đô, bao gồm nước mặt, nước ngầm tầng nông, nước mưa và nước thải sau xử lý, nhằm bổ sung, duy trì sự cân bằng của hệ thống nước đô thị.
Dự án đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp với từng giai đoạn triển khai, bao gồm các dự án cụ thể để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước sông, phục hồi hệ sinh thái, và nâng cao vai trò của hệ thống sông nội đô trong mối liên kết với môi trường, văn hóa và con người của Thủ đô Hà Nội.
Đề án đã được Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt (tháng 7/2025) để đưa vào triển khai thực hiện.
Bà là tác giả của nhiều sáng kiến, giải pháp kỹ thuật cải tiến công nghệ môi trường đã được áp dụng thành công, mang lại hiệu quả lớn về môi trường-kinh tế-xã hội; có nhiều đóng góp cho quy hoạch và chính sách quản lý vệ sinh môi trường quốc gia và các địa phương...
Những công trình và sản phẩm khoa học của bà không chỉ mang lại hiệu quả môi trường – xã hội, còn thể hiện định hướng rõ rệt về phát triển hạ tầng xanh hướng tới NetZero, kinh tế tuần hoàn, đảm bảo an ninh nước và sức khỏe cộng đồng.
Giáo sư Trần Thị Việt Nga còn là người truyền lửa, xây dựng Nhóm nghiên cứu Các giải pháp nước tiên tiến (InWATER) trong đó 5/8 thành viên là các nhà khoa học nữ nhiều đam mê và năng lực nghiên cứu khoa học xuất sắc.
Bà là thành viên của nhiều hiệp hội chuyên ngành trong nước và quốc tế, là giáo sư thỉnh giảng hệ sau đại học tại một số trường Đại học trong khu vực và quốc tế như Đại học Tokyo, Đại học Liên Hiệp Quốc (Nhật Bản), Đại học Dresen (Đức), Đại học Southampton (Vương Quốc Anh), Đại học Brescia (Italy); hướng dẫn thành công 5 Tiến sỹ cùng hơn 30 Thạc sỹ trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng và môi trường.
Thể hiện năng lực quản lý, lãnh đạo, Giáo sư Trần Việt Nga đã ở cương vị Trưởng Khoa Kỹ thuật Môi trường (từ 2015-2025), Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật (từ 3/2025), có nhiều đóng góp quan trọng xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trẻ chất lượng cao, phát triển cơ sở vật chất phòng thí nghiệm tiên tiến phục vụ nghiên cứu và đào tạo.
Nghiên cứu khoa học cần sự đam mê
Thể hiện sự tự hào, hạnh phúc khi nhận Giải thưởng Kovalevskaia-giải thưởng đánh giá sự cống hiến của nữ trí thức Việt Nam, Giáo sư Trần Thị Việt Nga cho rằng tất cả các nhà khoa học nữ đều mong muốn nhận được giải thưởng này và đây cũng là mong muốn của bà khi còn học phổ thông.
Giáo sư Trần Thị Việt Nga cho biết làm một nhà khoa học nữ đòi hỏi phải chịu được sự áp lực, đó cũng là thách thức đối với phụ nữ nói chung, đặc biệt là những người làm công tác quản lý.
Nhưng là phụ nữ cũng có những lợi thế riêng. Đó là tính đa nhiệm: phải thực hiện rất nhiều các việc khác nhau đòi hỏi phải có sự quản lý thời gian tốt, tính kiên nhẫn, sử dụng thời gian và có kế hoạch làm việc hiệu quả. Bên cạnh đó còn có thế mạnh năng lực riêng của người phụ nữ: sự tỉ mỉ, kiên trì, sự chia sẻ.
"Trong nghiên cứu có thành công và cũng có cả những thất bại, khó khăn mà tất cả đội ngũ tri thức đều hiểu và xác định rõ đó là phần không thể thiếu trong công việc. Việc nghiên cứu khoa học không thể tách rời được khỏi tập thể. Kết quả nghiên cứu là sự cộng hưởng, công sức và sự nỗ lực của cả tập thể, cần tạo điều kiện để mỗi người đều có thể phát huy những thế mạnh khác nhau. Không chỉ bản thân tôi mà các nhà khoa học nữ nói riêng, phụ nữ nói chung khi làm nghiên cứu không nghĩ nhiều đến việc thành công hay các thành quả lớn lao mà chỉ suy nghĩ và khát khao hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu, có kết quả tốt. Kết quả đó khi được ứng dụng mang lại lợi ích cho cộng đồng thì lại càng ý nghĩa. Cho đến giờ, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc và may mắn bởi được làm công việc nghiên cứu khoa học mình yêu thích. Thực hiện công việc yêu thích sẽ luôn mang đến năng lượng tích cực và niềm vui, chính vì vậy tôi cảm thấy không có sự vất vả," Giáo sư Trần Thị Việt Nga chia sẻ.
Với các bạn trẻ mong muốn dấn thân vào con đường nghiên cứu khoa học, Giáo sư-Tiến sỹ Trần Thị Việt Nga nhắn nhủ: Nghiên cứu khoa học trước hết cần có sự đam mê; cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản vững chắc; khả năng bắt nhịp được các yêu cầu trong việc.
Nghiên cứu khoa học không phải là làm những việc to lớn, cần sự sự sáng tạo hay cái mới, mà cần hiểu được bài bản các bước để có thể tiến hành nghiên cứu: từ xác định vấn đề, nguyên tắc, phương pháp cơ bản, xử lý số liệu để có thể đánh giá được khách quan.
Các kiến thức vững chắc sẽ giúp cho tất cả mọi người có cách suy nghĩ mạch lạc, logic, giải quyết vấn đề, đánh giá và vận dụng hiệu quả trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp dù ở bất cứ vị trí công tác nào./.
Nữ nhà khoa học Việt Nam và hành trình lan tỏa tri thức xã hội
Câu chuyện của những nhà khoa học nữ cho thấy phía sau các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm khoa học hay các sản phẩm thông tin là sự tận tâm với nghề và nỗ lực bền bỉ trong công việc.