Quy định mới về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội

Nghị định mới quy định biện pháp thi hành Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, pháp luật có liên quan hoạt động, quản lý cơ sở trợ giúp xã hội.

Một tiết học tại Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Điện Biên. (Ảnh minh họa: TTXVN phát)
Một tiết học tại Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh Điện Biên. (Ảnh minh họa: TTXVN phát)

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Nghị định số 395/2026/NĐ-CP ngày 23/10/2026 quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội.

Nghị định này quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội; quy định chi tiết một số nội dung tại: Khoản 3 Điều 47 Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12; khoản 2 Điều 20 Luật Người cao tuổi số 39/2009/QH12.

Nghị định này quy định biện pháp để tổ chức thi hành Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và pháp luật có liên quan về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội.

Các loại hình của cơ sở trợ giúp xã hội

Nghị định quy định các loại hình của cơ sở trợ giúp xã hội gồm:

1. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người cao tuổi.

2. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

3. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người khuyết tật.

4. Cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí.

5. Cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp thực hiện việc chăm sóc nhiều đối tượng bảo trợ xã hội hoặc đối tượng cần trợ giúp xã hội.

6. Trung tâm công tác xã hội.

7. Cơ sở tư vấn, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi dài hạn; cơ sở tư vấn, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ban ngày quy định tại điểm b khoản 2 Điều 20 Luật Người cao tuổi.

8. Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật dài hạn; cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật ban ngày quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Người khuyết tật.

9. Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Người khuyết tật.

10. Cơ sở trợ giúp xã hội khác theo quy định của pháp luật.

Chức năng của cơ sở trợ giúp xã hội

Cơ sở trợ giúp xã hội có chức năng phòng ngừa, chăm sóc, nuôi dưỡng, can thiệp, trị liệu hỗ trợ phục hồi, phát triển và hòa nhập cộng đồng cho đối tượng.

Nhiệm vụ của cơ sở trợ giúp xã hội

Điều 6 của Nghị định quy định nhiệm vụ của cơ sở trợ giúp xã hội.

Theo đó, cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện một số hoặc đầy đủ các nhiệm vụ sau đây phù hợp với chức năng, loại hình cơ sở, đối tượng phục vụ, yêu cầu hoạt động theo quy định của pháp luật, cụ thể:

1. Cung cấp các dịch vụ chăm sóc, trợ giúp khẩn cấp

a) Tiếp nhận đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp;

b) Đánh giá các nhu cầu của đối tượng; sàng lọc và phân loại đối tượng. Trường hợp cần thiết thì chuyển gửi đối tượng tới các cơ sở y tế, giáo dục, cơ quan công an, tư pháp hoặc các cơ quan, tổ chức phù hợp khác theo quy định của pháp luật;

c) Bảo đảm sự an toàn và đáp ứng các nhu cầu bảo vệ khẩn cấp của đối tượng như: chăm sóc y tế, nơi tạm trú an toàn, nước uống, thực phẩm, quần áo, đồ dùng thiết yếu và đi lại.

2. Tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng.

3. Tư vấn và trợ giúp đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội; kết nối, phối hợp và giới thiệu đến Trung tâm trợ giúp pháp lý để thực hiện cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý có nhu cầu; phối hợp với các cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp đối tượng; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc.

4. Đánh giá nhu cầu, sàng lọc, phân loại đối tượng; xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; giám sát và rà soát, đánh giá các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch; lập hồ sơ quản lý trường hợp và lưu trữ hồ sơ hoặc thực hiện kế hoạch can thiệp, trợ giúp mới (nếu đối tượng có nhu cầu).

5. Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng.

6. Cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh hoặc kết nối với các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; kết nối chuyển gửi đối tượng đến cơ sở khác phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của đối tượng.

7. Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, trợ giúp các đối tượng trong các hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm đối tượng lao động sản xuất theo quy định của pháp luật.

8. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức để hỗ trợ đối tượng tiếp cận, tham gia các chương trình giáo dục phổ thông các cấp, giáo dục nghề nghiệp và đại học, giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt và hướng nghiệp phù hợp với nhu cầu, khả năng của đối tượng nhằm giúp đối tượng phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách và hòa nhập cộng đồng.

9. Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực

a) Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội, phát triển khả năng tự giải quyết các vấn đề, giáo dục kỹ năng làm cha mẹ; đào tạo kỹ năng sống cho trẻ em và người chưa thành niên;

b) Hợp tác với các cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, trợ giúp đối tượng;

c) Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các nhóm đối tượng có nhu cầu.

10. Quản lý đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội.

11. Cung cấp dịch vụ công tác xã hội và tổ chức các hoạt động thực hành công tác xã hội, cập nhật kiến thức công tác xã hội theo quy định của pháp luật về công tác xã hội.

12. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi.

13. Phát triển cộng đồng

a) Liên hệ với người dân, chính quyền các cấp trong việc xác định các vấn đề của cộng đồng để xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp cộng đồng;

b) Đề xuất chính sách với các cơ quan có thẩm quyền;

c) Xây dựng mạng lưới nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội, tình nguyện viên công tác xã hội.

14. Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương, gia đình và các cơ quan, tổ chức có liên quan đưa đối tượng trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng ổn định cuộc sống.

15. Thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em và các đối tượng tự nguyện khác có nhu cầu trợ giúp.

16. Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức, phổ biến chính sách pháp luật.

17. Thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ theo yêu cầu và các nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền quyết định.

18. Tổ chức vận động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật.

19. Cơ sở trợ giúp xã hội công lập thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập và các nhiệm vụ quy định tại Điều này.

Nghị định 395/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 07/12/2026./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung trả lời phỏng vấn về chuyến công tác châu Âu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: TTXVN)

Nâng tầm toàn diện quan hệ giữa Việt Nam với Đan Mạch, EU và Bỉ

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thành công tốt đẹp, đạt được nhiều kết quả quan trọng và thực chất, nâng tầm toàn diện quan hệ giữa Việt Nam và các đối tác trên cơ sở quyết tâm chính trị cao, có nhiều điểm đồng về định hướng chiến lược.

Thủ tướng Bỉ Bart De Wever đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tạo đột phá mới cho quan hệ giữa Việt Nam và Bỉ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Bỉ Bart De Wever nhất trí cần tiếp tục tăng cường tin cậy chính trị, mở rộng quy mô hợp tác, quyết tâm đưa quan hệ song phương lên một tầm cao mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại buổi gặp gỡ chuyên gia, trí thức người Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ đại diện chuyên gia, trí thức người Việt tại Bỉ và Luxembourg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị thời gian tới, lấy bài toán thực tiễn của đất nước làm điểm xuất phát; phải chuyển từ “đi tìm nguồn lực” sang “kết nối nguồn lực với nhu cầu; các chuyên gia, trí thức người Việt mạnh dạn đăng ký nhận nhiệm vụ gắn với bài toán lớn và công nghệ chiến lược của quốc gia.