Tuần lễ văn hóa du lịch với chủ đề "Huyền thoại voi Tây Nguyên" khai mạc ngày 16/12 tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) là hoạt độnghưởng ứng chương trình kích cầu của ngành du lịch Việt Nam, tiến tới kỷ niệm 35năm chiến thắng Buôn Ma Thuột.
Nhưng nhiều nhà khoa học lại tỏ ra băn khoăn, lo lắng cho môi trường, chosự tồn vong của các loài sinh vật, đặc biệt là đàn voi ở đây, trước sự khai thácquá mức của con người và không muốn chúng sẽ trở thành “huyền thoại” như tiêu đềmà những người tổ chức đã đặt ra.
Hầu như ai cũng biết, khách du lịch đến với Tây Nguyên nhờ sự hấp dẫn củanúi rừng đại ngàn, sự trung thành cần mẫn của những đàn voi, cũng như những nétvăn hóa đặc trưng của những tộc người Êđê, Gia Lai, M’Nông…
Thế nhưng, vì nhu cầu phát triển kinh tế trước mắt, đã có lúc con người đãhành xử đối với các loài động, thực vật ở đây, trong đó có đàn voi rừng, một cáchthiếu khoa học và đang dẫn chúng tới bờ vực của sự tuyệt chủng.
Giáo sư-tiến sĩ Đặng Huy Huỳnh – nhà động vật học hàng đầu hiện nay củaViệt Nam cho biết số lượng voi ở cả 4 tỉnh khu vực Tây Nguyên hiện còn chưa tới70 cá thể và số voi nhà cũng không vượt quá 60 con.
Nếu đem so sánh với số lượng voi mà Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vậtthống kê được cách đây 30 năm (khoảng 300 voi rừng và gần 100 voi nhà) thì mớithấy rõ nguy cơ tuyệt chủng của đàn voi Tây Nguyên đang hiện hữu. Từ năm 1992,loài động vật quý hiếm này đã được ghi vào trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới ởcấp độ bảo vệ cao nhất.
Trước sức ép của nhu cầu phát triển kinh tế sau chiến tranh và do nhậnthức chưa kịp thời đại, chỉ trong một thời gian rất ngắn, Việt Nam đã tàn phámôi trường sống của các loài thú rừng một cách không thương tiếc. Đi kèm theo đólà tình trạng quản lý lỏng lẻo, thậm chí còn cổ vũ cho việc săn bắt voi rừng.
Chỉ tới khi nhận ra đàn voi rừng bị giảm sút quá nhanh, cùng các loài độngvật quý hiếm như tê giác một sừng, sao la, mang lớn đã tới bờ vực của sự tuyệtchủng; đặc biệt là loài bò rừng Cuplây của Tây Nguyên đã vĩnh viễn biến mất,Việt Nam mới vội vã thành lập hàng loạt khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốcgia; đồng thời ban hành lệnh cấm săn bắt voi, thú rừng.
Có lúc tưởng như những con voi rừng bị săn bắt, được thuần dưỡng thành voinhà, làm nhiệm vụ kéo gỗ, chở khách du lịch sẽ có kết cục tốt hơn. Nhưng khi môitrường sống hoang dã không còn, thức ăn thiếu thốn và phải sống tù túng trongvòng xiềng xích, nhiều cá thể voi cũng chết dần, chết mòn.
Một số con voi được dùng vào việc phục vụ khách du lịch được chăm sóc kỹlưỡng hơn, trông khỏe mạnh nhưng khả năng sinh sản cũng không tốt.
Thực tế đã cónhững cuộc hôn phối giữa voi thuần dưỡng với nhau, hoặc giữa voi rừng với voinhà, nhưng kết quả sinh sản cực kỳ thấp. Chính đồng bào bản địa cũng nhận rađiều này và từ bỏ truyền thống săn bắt, thuần dưỡng voi.
Theo giáo sư-tiến sĩ Đặng Huy Huỳnh, sở dĩ khả năng sinh sản của voi mẹcũng như tỷ lệ sống sót của voi con thấp là do môi trường sống tự nhiên củachúng bị đảo lộn.
Voi rừng ở Việt Nam phân bố rộng khắp khu vực Tây Nguyên, chủ yếu sốngtrong rừng nguyên sinh Chư Yang Sin (huyện Lăk và Krông Bông) và vùng rừng giápgiới Campuchia trải dài từ huyện Ea Súp đến Buôn Đôn (Đắk Lắk) và các huyện ChưJút, Đắk Mil (Đắk Nông), đặc biệt chúng tập trung nhiều trong vườn quốc gia YôkĐôn bên kia dòng sông Sêrêpôk.
Nhưng nay, hầu hết các cánh rừng này đã bị tàn phá nặng nề và những convoi có ngà cũng luôn bị thợ săn rình rập hạ sát.
Theo kịch bản, “Tuần lễ văn hóa du lịch” này sẽ là một chuỗi những hoạtđộng “mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc và huyền thoại về những đàn voi TâyNguyên”. Trong đó có trại sáng tác điêu khắc gỗ, lễ hội đường phố, ẩm thực vàtái hiện các nghi lễ săn bắt thuần dưỡng voi rừng, lễ cúng bến nước của đồng bàoÊđê…
Trong đó, hội voi tại Buôn Đôn được coi là “một điểm nhấn hấp dẫn nhất”.Sẽ có 30 chú voi tham gia vào các cuộc thi chạy, thi kéo vật nặng và vượt sôngSêrêpôk…
Như lời quảng bá, Tuần lễ văn hóa du lịch "Huyền thoại voi Tây Nguyên" nàycòn có nhiều hoạt động đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc, với huyền thoại vềnhững “chàng trai, cô gái mắt ánh hiền hòa”, huyền thoại về chàng dũng sĩ ĐamSan oai hùng và các nữ tù trưởng H’Nhi, H’Bhi xinh đẹp…
Nhưng hầu như Ban tổ chức đã “quên” những hoạt động có thể khơi dậy nhữngnét đẹp của tầng sâu văn hóa dân gian của đồng bào các dân tộc ở đây. Đó là cácluật tục rất quý trong việc bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước, bảo vệ đa dạngsinh học của Tây Nguyên./.
(TTXVN/Vietnam+)