Ghep te bao goc tu than de dieu tri benh phoi tac nghen man tinh hinh anh 1

Ông Tạ Xuân Tr. (69 tuổi, ở Hiền Ninh, Sóc Sơn) mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã nhiều năm nay với mức độ nặng, phải vào viện nhiều lần vì các cơn cấp, chất lượng cuộc sống suy giảm.

Tuy nhiên nhờ áp dụng phương pháp ghép tế bào gốc tự thân từ mô mỡ để điều trị, hiện nay, sức khỏe của ông Tr. đã cải thiện rõ rệt.

Bác sỹ Nguyễn Thanh Thủy, Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết, bệnh nhân Tạ Xuân Tr. là một trong những bệnh nhân được ghép tế bào gốc tự thân từ mô mỡ vào tháng 11/2018.

Trước khi thực hiện ghép tế bào gốc, bệnh nhân được đánh giá tình trạng bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ở mức GOLD D, tức là tình trạng khó thở nặng. Khi leo cầu thang hoặc đi bộ từ 100-200m thì bệnh nhân đã xuất hiện cơn khó thở.

Trong một năm, bệnh nhân xuất hiện rất nhiều đợt cấp, phải nằm viện để điều trị. Bên cạnh đó, chức năng hô hấp của bệnh nhân (đo chỉ số FEV1) dưới 50%, tức là thông khí tắc nghẽn ở mức độ nặng và bệnh nhân có chỉ định để ghép tế bào gốc.

Bệnh nhân Tr. chia sẻ: “Sau 11 tháng ghép điều trị tế bào gốc, tình trạng sức khỏe của tôi cải thiện rõ rệt, đặc biệt là khả năng gắng sức. Tôi đã đi bộ được quãng đường dài hơn, leo được cầu thang với tầng cao hơn mà không xuất hiện khó thở hoặc xuất hiện khó thở với mức độ nhẹ. Gần 1 năm vừa rồi tôi không hề xuất hiện một đợt cấp nào liên quan đến bội nhiễm. Khi xuất hiện các cơn khó thở, tôi đã tự kiểm soát được theo hướng dẫn của bác sỹ mà không phải vào viện để điều trị.”

Theo phó giáo sư-tiến sỹ Chu Thị Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, tế bào gốc là những tế bào chưa biệt hóa, có khả năng biệt hóa để trở thành các tế bào khác với các chức năng riêng biệt mới.

[Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm - nhà khoa học tiên phong về tế bào gốc]

Tế bào gốc trưởng thành (adult stem cell) thu nhận từ tủy xương, mô mỡ… không chỉ có khả năng làm mới mà còn có khả năng biệt hóa thành nhiều kiểu tế bào khác nhau như xương, mỡ, sụn, cơ, gan, thận, tim mạch, tế bào tiết insulin, thần kinh, tế bào khí quản…

Tế bào gốc tự thân có tính an toàn cao. Chính vì thế, hiện nay tế bào gốc trưởng thành đang được nghiên cứu ứng dụng điều trị trong rất nhiều bệnh lý.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính có thể dự phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn.

Qua các nghiên cứu cho thấy tế bào gốc trưởng thành được thấy là loại tế bào gốc đa năng có thể biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, có khả năng di chuyển đến vùng tổn thương, có tính kháng viêm và điều hòa miễn dịch.

Vì vậy, tế bào gốc trưởng thành có thể tác động đến cơ chế bệnh sinh của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và làm chậm tiến triển của bệnh cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Tủy xương, mô mỡ là nguồn cung cấp số lượng tế bào gốc trưởng thành nhiều nhất trong cơ thể. Việc dùng tế bào gốc trưởng thành tự thân giúp tránh được nguy cơ liên quan đến thải ghép.

Nghiên cứu điều trị tế bào gốc cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Việt Nam đang là hướng đi mới với nhiều triển vọng.

Năm 2017, Bệnh viện Bạch Mai bắt đầu triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ và tủy xương trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” đã được Bộ Khoa học Công nghệ phê duyệt.

Phó giáo sư-tiến sỹ Chu Thị Hạnh chia sẻ: “Đến nay, đã có 40 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này và kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy chưa có biến cố bất lợi nào liên quan đến truyền tế bào gốc tự thân từ mô mỡ, tủy xương. Sức khỏe của các bệnh nhân đều có sự cải thiện rõ rệt và có phản hồi tích cực khi được điều trị bằng tế bào gốc. Chúng tôi hy vọng đây sẽ là hướng điều trị triển vọng cho các bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính"./.

Để được điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc, bệnh nhân cần:
- Được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở mức độ nặng và rất nặng theo phân loại của GOLD 2016 (ở mức GOLD C và GOLD D), trong độ tuổi từ 40 đến 80. 
- Chỉ số FEV1 (đo chức năng hô hấp cho bệnh nhân) ≤ 60%.
- Có ít nhất 2 đợt cấp hoặc ít nhất 1 đợt cấp phải nhập viện trong 1 năm trước đó.

Quy trình tiến hành: 
- Thu nhận tế bào gốc từ mô mỡ/ tủy xương
- Xử lý, tách chiết khối TBG từ mô mỡ/ tủy xương
- Truyền tĩnh mạch khối tế bào gốc tự thân từ mô mỡ/ tủy xương
- 7 ngày theo dõi sau ghép tại phòng bệnh, ổn định sẽ ra viện
- Tiếp tục theo dõi gồm khám lâm sàng và xét nghiệm thăm dò cận lâm sàng 4 tuần/ 1 lần cho đến 12 tháng./.

PV (TTXVN/Vietnam+)