Không chỉ huy động thêm vốn hay mở rộng đầu tư, mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng và năng lực sản xuất thực chất của nền kinh tế. Từ hiệu quả đầu tư, khả năng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI đến chi phí vốn, chi phí thời gian và sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các địa phương, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, chất lượng và tính bền vững phải là yêu cầu xuyên suốt trong hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao.
Tiếp tục Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 31/10, thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề xuất các giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027 và giai đoạn 2026-2030, gắn với hiệu quả sử dụng nguồn lực, ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện đời sống nhân dân.
Tăng trưởng cao phải đi cùng hiệu quả và chất lượng
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027, đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hòa) cho rằng, cần đánh giá đầy đủ tính khả thi, chất lượng và nguồn lực thực hiện. Theo báo cáo thẩm tra, GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%, nhưng để đạt mục tiêu cả năm, quý 4 cần tăng khoảng 12,5%, đặt ra thách thức rất lớn.
Theo đại biểu, cần phân tích mức đóng góp của tiêu dùng trong nước, đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và năng suất lao động để xác định những động lực đang dẫn dắt tăng trưởng, những lĩnh vực cần khơi thông. Mục tiêu tăng trưởng cao phải đi liền với năng lực hấp thụ vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đại biểu đề nghị chuyển mạnh từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước. Xuất khẩu 9 tháng năm 2026 tăng 24,5%, vốn FDI thực hiện tăng 12,1%, nhưng cần đánh giá sâu hơn giá trị thực chất tạo ra tại Việt Nam, mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng, năng suất lao động, trình độ công nghệ và thu nhập của người lao động.
Nếu sản xuất, xuất khẩu tăng nhưng nguyên liệu, linh kiện và công nghệ vẫn phụ thuộc vào bên ngoài, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu thực hiện các công đoạn có giá trị gia tăng thấp thì khả năng lan tỏa của tăng trưởng còn hạn chế, nền kinh tế dễ bị tổn thương trước biến động bên ngoài.
Vì vậy, cần nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa hợp lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp FDI liên kết thực chất với doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận bình đẳng hơn với đất đai, vốn, công nghệ và cơ hội tham gia các dự án lớn.
Cùng quan điểm về yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) nhấn mạnh, vấn đề quan trọng không chỉ là huy động thêm vốn mà phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng và lợi ích cho người dân, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo phương án dự toán Chính phủ trình Quốc hội, chi đầu tư phát triển năm 2027 dự kiến tăng gần 57% so với dự toán năm 2026. Đại biểu ghi nhận Chính phủ đã xác định chuyển trọng tâm đánh giá đầu tư từ tỷ lệ giải ngân sang các công trình đưa vào khai thác và năng lực sản xuất mới. Tuy nhiên, cần cụ thể hóa việc đánh giá hiệu quả sau đầu tư theo từng loại dự án, trong đó tính đến tác động đối với việc làm và đời sống Nhân dân.
Đối với đầu tư nước ngoài, cần quan tâm mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng, khả năng chuyển giao công nghệ và chất lượng việc làm. Đối với khoa học, công nghệ, cần đánh giá kết quả nghiên cứu được ứng dụng, thương mại hóa và đóng góp thực tế vào nâng cao năng suất.
Khơi thông nguồn vốn, giảm chi phí cho doanh nghiệp
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2027 và những năm tiếp theo, đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị kiên trì thực hiện ba đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao; phát huy tối đa ba động lực tăng trưởng truyền thống gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu.
Cùng với đó, Chính phủ và các địa phương cần có chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai các động lực tăng trưởng mới đã được Quốc hội thể chế hóa, như khu kinh tế đặc biệt, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu phi thuế quan, trung tâm logistics và công nghiệp văn hóa.
Đại biểu nhấn mạnh yêu cầu giải quyết bài toán cấu trúc vốn của nền kinh tế, cân đối thời hạn và tính chất nguồn vốn với nhu cầu sử dụng, bảo đảm nguồn vốn đầu tư xã hội cho giai đoạn 2026-2030 mà không ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong đó, cần tái cấu trúc thị trường tài chính, tạo điều kiện để thị trường chứng khoán trở thành kênh chủ lực cung ứng vốn; sớm tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước và xem xét tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại nhằm tăng nguồn vốn, góp phần kéo giảm lãi suất.
Đại biểu Lê Hữu Trí cũng đề nghị phát triển thực chất thị trường vốn, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, công nghệ, năng lượng, logistics và hạ tầng. Đồng thời, kiểm soát chất lượng tín dụng và rủi ro trong các lĩnh vực có mức độ liên thông cao như ngân hàng, trái phiếu, bất động sản.
Đối với chính sách tín dụng, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Bộ Tài chính điều hành đồng bộ chính sách tiền tệ và tài khóa, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay phù hợp với yêu cầu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống. Các tổ chức tín dụng cần được khuyến khích đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng đủ điều kiện trên cơ sở dòng tiền, dữ liệu và hiệu quả phương án kinh doanh, gắn với kiểm soát rủi ro.
Bên cạnh chi phí vốn, đại biểu Lê Văn Thế lưu ý doanh nghiệp còn phải chịu chi phí thời gian. Thời gian chờ đợi trong các khâu quy hoạch, thủ tục đất đai, đầu tư, xây dựng và phối hợp giữa các cơ quan cũng là chi phí thực tế của doanh nghiệp.
Đại biểu đề nghị theo dõi tổng thời gian giải quyết các quy trình liên thông về đầu tư, đất đai, xây dựng; xác định rõ trách nhiệm phối hợp và khắc phục tình trạng yêu cầu bổ sung hồ sơ nhiều lần.
Đồng thời, cần cụ thể hóa một số chỉ số phản ánh chất lượng chuyển hóa nguồn lực, năng suất, năng lực sản xuất mới, giá trị gia tăng, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và kết quả thương mại hóa khoa học, công nghệ.
Đại biểu đề nghị Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành thống nhất cách tính, chia sẻ dữ liệu hiện có, tránh báo cáo chồng chéo. Đây là các chỉ số phục vụ công tác điều hành, không phải bổ sung hệ thống chỉ tiêu pháp định hay tạo thêm gánh nặng báo cáo.
Cần tính đến đặc thù địa phương
Đề cập đến tiềm năng kinh tế biển và nguồn lực phát triển địa phương, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) đề nghị Chính phủ quy hoạch kinh tế biển có sự lựa chọn, phân công và liên kết rõ ràng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; tránh đầu tư trùng lặp, phân tán nguồn lực và khó hình thành các trung tâm có sức cạnh tranh quốc tế.
Đại biểu đề nghị rà soát, cập nhật hệ thống quy hoạch, bảo đảm thống nhất giữa quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch ngành; xác định rõ các trung tâm động lực, chuỗi liên kết và công trình hạ tầng ưu tiên.
Cùng với đó, cần bảo đảm nguồn lực tương xứng với nhiệm vụ, duy trì động lực phát triển của địa phương và có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các chương trình, dự án, đề án và nhiệm vụ đặc thù trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Từ thực tiễn địa phương, đại biểu Lò Văn Thọ (Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La) cho rằng, khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 giữa các địa phương có sự khác biệt. Theo báo cáo của Chính phủ, có 27/34 địa phương có tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng thấp hơn mục tiêu cả năm. Các địa phương đạt mức tăng trưởng cao chủ yếu có lợi thế về công nghiệp, dịch vụ, đầu tư nước ngoài, hạ tầng và các dự án động lực.
Trong khi đó, những địa phương còn nhiều khó khăn, ít lợi thế phát triển, nhất là các tỉnh miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng như giữ đất, giữ rừng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, chăm lo an sinh xã hội và ổn định đời sống Nhân dân. Vì vậy, việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao là thách thức không nhỏ.
Đại biểu đề nghị cần có đánh giá nhiều chiều về khả năng tăng trưởng, tính đến yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược để các địa phương vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ, vừa duy trì động lực phát triển kinh tế bền vững. Trong đó, cần có giải pháp hỗ trợ các địa phương khó khăn, nhất là đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, điều kiện thiết yếu đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đại biểu kiến nghị Quốc hội, Chính phủ nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhưng giữ vị trí trọng yếu, đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng và an sinh xã hội. Qua đó, có cách đánh giá toàn diện hơn về kết quả tăng trưởng và yêu cầu phát triển bền vững của các địa phương.
Riêng với khu vực Tây Bắc, đại biểu mong muốn Chính phủ quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các tuyến đường cao tốc, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Sơn La và tăng cường kết nối liên vùng./.