Sáng 1/8, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 đã chính thức khai mạc tại Hà Nội. Các tham luận của các bộ, ban, ngành và địa phương tại phiên khai mạc đã đi sâu phân tích dữ liệu thực tiễn và đề xuất các giải pháp mang tính đột phá cho từng lĩnh vực, qua đó đóng góp chung vào nhiệm vụ công tác đối ngoại trong kỷ nguyên phát triển mới.
Hiện thực hóa mục tiêu thương mại 1.000 tỷ USD
Báo cáo tham luận tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh thời gian qua, công tác ngoại giao kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế, mở rộng thị trường và nâng cao vị thế của Việt Nam.
Thông tin về ngoại giao kinh tế với những con số ấn tượng, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, tính đến nay, Việt Nam đã tham gia và thực thi 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) và vừa kết thúc đàm phán với khối Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu (EFTA). Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2016-2025 tăng 2,7 lần, từ 176 tỷ USD lên 475 tỷ USD. Năm 2025, quy mô thương mại đạt 930 tỷ USD, đưa nước ta vào nhóm 15 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu.
Đặc biệt, trong 7 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã đạt 659 tỷ USD (tăng 28% so với cùng kỳ); qua đó tạo cơ sở để dự kiến tổng kim ngạch cả năm 2026 sẽ chính thức vượt mốc lịch sử 1.000 tỷ USD. Hiệu quả khai thác FTA rất khả quan với hơn 1,2 triệu bộ Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) được cấp, mang lại giá trị gần 100 tỷ USD (chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu); tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA với EU, ASEAN-Ấn Độ, ASEAN-Australia-New Zealand đạt mức cao từ 30-50%.
Về định hướng thời gian tới, Bộ Công Thương nhấn mạnh 6 trọng tâm cơ bản: Đổi mới ngoại giao kinh tế để đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao năng suất và năng lực công nghệ; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đẩy mạnh chương trình “Go Global” (Vươn ra thị trường quốc tế) giai đoạn 2026-2030 để đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng; đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại hướng tới hiệu quả thực chất; phát triển hệ sinh thái đối ngoại (kinh tế, khoa học, quốc phòng) để thu hút trí thức, công nghệ và dòng vốn chiến lược; phối hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh.
Cuối cùng là Nâng cao năng lực quản trị rủi ro quốc gia về thương mại, năng lượng và công nghệ nhằm bảo đảm hài hòa giữa hội nhập sâu rộng và tự chủ chiến lược.
Mở rộng không gian phát triển, đưa đối ngoại thành động lực tăng trưởng cốt lõi
Trình bày tham luận tại hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng cho biết đối ngoại đã chuyển mạnh từ hợp tác hữu nghị truyền thống sang đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế. Hà Nội hiện có quan hệ hợp tác với 58 thủ đô và thành phố lớn toàn cầu.
Thành quả nổi bật là năm 2025, Thủ đô thu hút 4,3 tỷ USD vốn FDI; bước sang 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục thu hút 3,5 tỷ USD (đạt 75% kế hoạch năm), cùng 3,5 triệu lượt khách quốc tế (tăng 36%). Vị thế quốc tế của Thủ đô cũng được củng cố qua việc giữ vững danh hiệu "Thành phố vì Hòa bình" và tham gia tích cực vào Mạng lưới Thành phố sáng tạo, Thành phố học tập toàn cầu của UNESCO.
Hà Nội và Bộ Ngoại giao đã ký Quy chế phối hợp giai đoạn 2026-2030, đi sâu vào 5 lĩnh vực trọng tâm: Công tác lễ tân chính trị; Ngoại giao kinh tế (kết nối tập đoàn, xúc tiến đầu tư); Ngoại giao khoa học công nghệ (AI, bán dẫn, chuyển đổi xanh, đô thị thông minh); Ngoại giao văn hóa gắn với công tác kiều bào (quảng bá văn hóa Thăng Long, thu hút trí thức kiều bào) và Đào tạo cán bộ đối ngoại.
Lãnh đạo thành phố Hà Nội đề nghị Trung ương tiếp tục hỗ trợ nâng tầm hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hạ tầng đô thị (đặc biệt là đường sắt đô thị), kết nối các định chế tài chính, tập đoàn công nghệ lớn để phát triển dữ liệu lớn, chuyển đổi số, đồng thời tận dụng mạng lưới chuyên gia quốc tế phục vụ mục tiêu xây dựng Thủ đô "Văn hiến-Văn minh-Hiện đại."
Nâng cao năng lực nội sinh, kiến tạo sức chống chịu cho nền kinh tế
Trình bày tham luận với chủ đề “Công tác hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính; thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững,” Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, cùng với tăng trưởng, nền tảng tài chính quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô không ngừng được củng cố.
Tỷ lệ nợ công đến cuối năm 2026 dự kiến chỉ ở mức 35-36% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trần cho phép, tạo dư địa dồi dào cho chính sách tài khóa. Vị thế của Việt Nam được khẳng định khi FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đang đưa nước ta tiến gần tới Ngưỡng đầu tư (Investment Grade).
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, ngành Tài chính xác định hội nhập trong kỷ nguyên mới không đơn thuần là gọi vốn mà phải trực tiếp nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, bảo đảm độc lập, tự chủ chiến lược.
Bốn định hướng lớn được đề ra gồm: Nâng cao hiệu quả huy động vốn (ưu tiên ODA và vốn dài hạn cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh); phát triển thị trường vốn hiện đại, minh bạch, tiệm cận chuẩn mực quốc tế; đổi mới tư duy thu hút FDI ưu tiên dự án công nghệ cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ để doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; và đẩy mạnh chuyển đổi số ngành tài chính, tăng cường hợp tác về fintech và chuẩn mực tài chính số.
Thay đổi hệ tư duy, kiến tạo mô hình tăng trưởng hai con số
Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Đức Trung cho rằng, trong bối cảnh tái cấu trúc toàn cầu về công nghệ, chuỗi cung ứng và định hình chính trị, mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi mô hình phát triển dựa vào khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo. Đối ngoại phải trở thành trụ cột kiến tạo mô hình này qua 3 định hướng chiến lược.
Thứ nhất, đối ngoại phải mở rộng 4 "không gian phát triển mới" bao gồm: Không gian công nghệ (AI, bán dẫn, sinh học); không gian tài chính (xây dựng trung tâm tài chính quốc tế); không gian đổi mới sáng tạo (kết nối mạng lưới chuyên gia, viện nghiên cứu toàn cầu); và Không gian thị trường (các FTA thế hệ mới). Việt Nam phải chủ động tham gia xây dựng luật chơi quốc tế thay vì chỉ thích ứng.
Thứ hai, chuyển tư duy từ "thu hút" sang "kiến tạo" nguồn lực, ưu tiên đưa về công nghệ nguồn, quỹ đầu tư mạo hiểm và đồng hành cùng doanh nghiệp nội địa tiến sâu vào chuỗi giá trị.
Thứ ba, chuyển từ "bảo vệ không gian phát triển" sang "kiến tạo năng lực phát triển quốc gia," tận dụng tối đa các khuôn khổ đối tác chiến lược toàn diện để nâng cao trình độ nhân lực và năng lực cạnh tranh.
Làm sâu sắc ngoại giao nghị viện, dẫn dắt các diễn đàn đa phương
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, Thượng tướng Lê Tấn Tới nhấn mạnh, đối ngoại Quốc hội phải trực tiếp đóng góp vào kiến tạo phát triển, tăng cường đan xen lợi ích, huy động các nguồn lực chất lượng cao phục vụ thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước.
Khẳng định, Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên xác định đối ngoại cùng với quốc phòng an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cho rằng, ngoại giao nghị viện đã phát huy vai trò là một trong ba trụ cột đối ngoại toàn diện, làm cầu nối chính trị, pháp lý và thúc đẩy hợp tác.
Thời gian qua, Quốc hội tham gia tích cực tại các diễn đàn Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Hội đồng liên Nghị viện các quốc gia Đông Nam Á (AIPA), Liên minh Nghị viện Pháp ngữ (APF) và nhiều diễn đàn nghị viện khu vực và quốc tế khác; đóng góp vào vào việc thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, thượng tôn pháp luật quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế và giám sát thực thi hiệu quả các điều ước quốc tế.
Trong giai đoạn mới, theo Thượng tướng Lê Tấn Tới, ngoại giao nghị viện phải vượt ra khỏi chức năng chính trị truyền thống để kiến tạo phát triển. Ủy ban cho rằng cần tập trung vào 5 nhiệm vụ:
Quán triệt đường lối Đại hội XIV của Đảng về công tác đối ngoại; tăng cường phối hợp thông tin dự báo chiến lược từ sớm, từ xa giữa giữa Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại và Văn phòng Quốc hội; gắn hoạt động đối ngoại Quốc hội với ưu tiên quốc gia như chuyển đổi số, an ninh năng lượng; nâng cao chất lượng đối ngoại đa phương của Quốc hội bằng cách chủ động dẫn dắt, đóng góp sáng kiến định hình luật chơi quốc tế; và đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác đối ngoại của Quốc hội, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại Quốc hội có bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược, chuyên nghiệp, hiện đại.
Chủ động định hướng dư luận trong kỷ nguyên số
Cảnh báo về những thách thức lớn từ sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), tin giả và môi trường cạnh tranh thông tin khốc liệt trên không gian mạng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Phan Xuân Thủy cho rằng, để thực hiện mục tiêu đối ngoại của đất nước theo nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, công tác thông tin đối ngoại cần tập trung vào 6 giải pháp căn cơ.
Theo đó, cần thống nhất thông điệp tuyên truyền trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Nội dung phải bám sát 3 trụ cột đối ngoại, trong đó ưu tiên phục vụ ngoại giao kinh tế, khoa học công nghệ. Thông tin đối ngoại cần phát huy sức mạnh mềm, lan tỏa giá trị văn hóa, lan tỏa thông điệp chân thực về một Việt Nam đổi mới, trách nhiệm, đồng thời hướng tới cộng đồng kiều bào để củng cố khối đại đoàn kết.
Đặc biệt, công tác này phải chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy "phản ứng" sang "chủ động dự báo, dẫn dắt” và kiến tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, ứng dụng sâu rộng dữ liệu lớn, chuyển đổi số để tham mưu, đồng thời tận dụng tiếng nói của chuyên gia, tổ chức quốc tế có uy tín để bảo vệ và lan tỏa chủ trương của Việt Nam trên trường quốc tế.
Củng cố và nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho rằng, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, việc củng cố và nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia càng trở nên cần thiết, góp phần quảng bá sâu rộng các giá trị văn hóa Việt Nam, nâng cao vị thế, uy tín và tầm ảnh hưởng của đất nước trên trường quốc tế, đồng thời đóng góp xứng đáng vào sự đa dạng của nền văn minh nhân loại.
Điểm lại những kết quả nổi bật của công tác văn hóa đối ngoại thời gian qua, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, Bộ đã chủ trì ký kết 136 điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; tổ chức gần 40 chương trình văn hóa, nghệ thuật phục vụ các chuyến thăm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tổ chức 90 Tuần Văn hóa, Ngày Văn hóa Việt Nam tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có 9 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 16 di sản văn hóa phi vật thể, 4 di sản tư liệu thế giới, 7 di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương và 4 Thành phố sáng tạo được UNESCO ghi danh.
Từ năm 2018-2025, Việt Nam được vinh danh 6 lần là "Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới," 7 lần là "Điểm đến hàng đầu châu Á" và 4 lần là "Điểm đến văn hóa và ẩm thực hàng đầu châu Á." Đặc biệt, Việt Nam lần đầu đảm nhiệm cùng lúc 6 cơ chế quan trọng của UNESCO và liên tiếp trúng cử vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức này.
Để sức mạnh mềm Việt Nam lan tỏa mạnh mẽ hơn trong giai đoạn phát triển mới, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề xuất năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Đổi mới tư duy và đa dạng hóa phương thức triển khai văn hóa đối ngoại, kết hợp chặt chẽ với thông tin đối ngoại; Đầu tư xây dựng "không gian văn hóa Việt Nam" giàu bản sắc tại các cơ quan đại diện ở nước ngoài;
Tiếp tục phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các thiết chế văn hóa trong quảng bá văn hóa Việt Nam; Nâng tầm vai trò tiên phong của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là UNESCO; Chủ động đề xuất các sáng kiến quốc tế phù hợp với năng lực tổ chức của Việt Nam.../.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Phiên khai mạc toàn thể Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33