Trong lịch sử dân tộc, Lý Nam Đế là một trong những nhân vật có dấu ấn đặc biệt trong cuộc đấu tranh giành lại quyền tự chủ sau nhiều thế kỷ Bắc thuộc.
Dấu tích về vị vua này vẫn được lưu giữ tại nhiều vùng quê, trong đó có Miếu Hai Thôn thuộc xã Vạn Xuân, tỉnh Hưng Yên. Đây là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, được xếp hạng năm 1986, thờ Lý Nam Đế, và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương cùng các tướng lĩnh thời Tiền Lý.
Mối duyên giữa vị thủ lĩnh nghĩa quân và cô gái An Để
Lý Bí hay Lý Bôn, sinh ngày 17 tháng 10 năm 503 trong một gia đình hào trưởng, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được một vị Pháp tổ thiền sư nuôi dạy, rèn luyện văn võ song toàn từ thuở nhỏ.
Mùa xuân năm 542, ông phất cờ khởi nghĩa chống chính quyền nhà Lương. Chỉ trong thời gian ngắn, nghĩa quân giành được nhiều thắng lợi, tiến tới đánh bại bộ máy cai trị của nhà Lương. Năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Thiên Đức, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, thể hiện khát vọng về một đất nước độc lập, trường tồn.
Theo truyền thuyết địa phương, trong thời gian dừng chân tại An Để để xây dựng căn cứ, luyện quân và chiêu mộ lực lượng, Lý Bí đã gặp Đỗ Thị Khương, người con gái quê nổi tiếng thông minh, xinh đẹp và đảm đang. Cuộc gặp được dân gian kể lại diễn ra trên cánh đồng quê, từ đó hình thành mối lương duyên giữa vị thủ lĩnh nghĩa quân và cô thôn nữ.
Đỗ Thị Khương được truyền tụng là con gái một gia đình làm nghề dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Không chỉ có nhan sắc, bà còn được biết đến bởi sự nhanh trí, tháo vát. Sau khi kết duyên cùng Lý Bí, theo truyền thuyết, bà ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ, đồng thời vận động người dân sản xuất, tích trữ lương thực, góp sức chuẩn bị hậu cần cho nghĩa quân.
Sau khi Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, Đỗ Thị Khương được phong làm Hoàng hậu. Những câu chuyện về bà không được ghi chép đầy đủ trong chính sử mà chủ yếu được lưu truyền qua thần tích, ngọc phả và truyền thuyết. Dù có yếu tố huyền thoại, hình ảnh người phụ nữ đồng hành cùng vị vua trong buổi đầu dựng nước vẫn được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Trong ký ức dân gian, bên cạnh hình ảnh vị hoàng đế khai mở nước Vạn Xuân luôn có bóng dáng của người phụ nữ quê Thái Bình xưa đã đồng hành từ những ngày đầu dựng nghiệp. Chuyện tình giữa Lý Nam Đế và Đỗ Thị Khương là một truyền thuyết đẹp đồng thời phản ánh khát vọng về sự đồng lòng, thủy chung và sẻ chia trong những năm tháng đầu tiên của nền độc lập dân tộc.
Theo tư liệu địa phương, khu vực Miếu Hai Thôn ngày nay được cho là nằm trên nền đất từng là tư dinh của Lý Nam Đế và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương. Sau khi hai nhân vật qua đời, người dân lập nơi thờ phụng để tưởng nhớ công lao. Đến cuối thế kỷ XVII, ngôi miếu được xây dựng lại và tiếp tục được tu bổ qua các thời kỳ.
Ngôi miếu cổ hơn 300 năm tuổi
Miếu Hai Thôn nằm trên một gò đất cao, diện tích khoảng 4.500m², giữa không gian xanh của những cây nhãn, cây thị cổ thụ. Công trình có mặt bằng kiến trúc chữ Tam, gồm tiền tế, trung tế và hậu cung. Hệ thống khung gỗ, bộ vì, mái ngói cùng nhiều mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật truyền thống tạo nên vẻ cổ kính cho di tích.
Trong khuôn viên khu nội tự, ngoài 3 hạng mục chính còn có nghi môn nằm thẳng phía trước tiền tế. Phía trước cửa miếu có cung sông nhỏ, giống một vệt lông mày, khiến ngôi miếu giống như đồng tử của một con mắt nhìn lên trời xanh bao la. Hai bên cửa miếu có hai giếng mắt rồng, đường kính khoảng 6m.
Trải qua hàng trăm năm, Miếu Hai Thôn vẫn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật. Các họa tiết rồng, phượng, lân, vân xoắn, lá lật được chạm khắc trên gỗ. Một số cấu kiện và mảng trang trí từ thời Lê được bảo tồn. Đáng chú ý là hệ thống khám thờ, ngai thờ và các đồ tế khí được sơn son, thếp vàng.
Ngai thờ gỗ sơn son thếp vàng có niên đại thế kỷ 17 từng được phát hiện tại Miếu Hai Thôn và hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Thái Bình. Trong hậu cung còn có tranh thờ thể hiện Lý Nam Đế và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương trong không gian thiết triều, được xem là tư liệu quý phản ánh nghệ thuật hội họa và tín ngưỡng thờ danh nhân của người Việt.
Khuôn viên di tích cũng có hai cây cổ thụ là cây thị và cây nhãn được công nhận là cây di sản năm 2016. Theo người dân địa phương, những cây này đã tồn tại hàng trăm năm, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của ngôi miếu.
Giữ gìn di sản từ ký ức cộng đồng
Không chỉ là nơi thờ tự, Miếu Hai Thôn còn là không gian để cộng đồng địa phương duy trì các phong tục, nghi lễ và sinh hoạt văn hóa truyền thống. Hằng năm, lễ hội được tổ chức từ ngày 10 đến 13 tháng 2 âm lịch, với các nghi thức rước, tế lễ, dâng hương cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian.
Trong những năm qua, công tác tu bổ, bảo tồn di tích được quan tâm. Một số hạng mục xuống cấp đã được sửa chữa, thay thế theo hướng giữ lại tối đa những yếu tố kiến trúc cổ. Hệ mái, nền, các cấu kiện gỗ được tu bổ phù hợp với kiến trúc truyền thống; những mảng chạm cổ, bình phong và các hiện vật có giá trị được ưu tiên gìn giữ. Nguồn lực xã hội hóa cũng góp phần đáng kể vào quá trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích.
Trong dòng chảy của thời gian, những câu chuyện về Lý Nam Đế và Hoàng hậu Đỗ Thị Khương có thể đã được bồi đắp thêm bởi trí nhớ dân gian. Nhưng chính những câu chuyện ấy, cùng với kiến trúc, hiện vật, lễ hội và cảnh quan cổ thụ, đã tạo nên giá trị riêng của Miếu Hai Thôn.
Ngày nay, tại Hưng Yên vẫn còn nhiều đền, miếu thờ Lý Nam Đế và Linh Nhân Hoàng hậu Đỗ Thị Khương. Người dân địa phương coi hai nhân vật là những vị phúc thần có công với đất nước và quê hương.
Giữa đời sống hiện đại, ngôi miếu vẫn là nơi người dân tìm về dâng hương, tưởng nhớ người xưa. Việc bảo tồn Miếu Hai Thôn vì thế không chỉ là giữ lại một công trình kiến trúc cổ, mà còn là gìn giữ ký ức cộng đồng về thời kỳ đầu xây dựng nền tự chủ, để những giá trị lịch sử và văn hóa tiếp tục được trao truyền cho các thế hệ sau./.