51 năm thống nhất đất nước: Đảng ta muôn vạn tấm lòng, niềm tin

Đảng luôn là trung tâm đoàn kết, là nơi hội tụ của muôn vạn tấm lòng, dẫn dắt dân tộc vượt qua những thời khắc cam go nhất, để giành được những thắng lợi vẻ vang nhất.
Hình ảnh xe tăng quân Giải phóng mang số hiệu 846 (Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2) tiến vào Dinh Độc Lập do nhà báo Trần Mai Hưởng (TTXVN) chụp ngày 30/4/1975, trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng cho Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, bền chặt và ngày càng được khẳng định qua thực tiễn - đó là niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tin ấy đã được hun đúc qua đấu tranh, thử thách và chiến thắng; được kiểm chứng bằng những bước ngoặt lịch sử của dân tộc.

Từ các cuộc kháng chiến vệ quốc đến công cuộc đổi mới và hội nhập hôm nay, Đảng luôn là trung tâm đoàn kết, là nơi hội tụ của muôn vạn tấm lòng, dẫn dắt dân tộc vượt qua những thời khắc cam go nhất, để giành được những thắng lợi vẻ vang nhất.

Đảng lãnh đạo toàn dân kháng chiến, giành độc lập, thống nhất đất nước

Kể từ khi được thành lập (ngày 3/2/1930), với đường lối đúng đắn, phương pháp cách mạng sáng tạo và năng lực tổ chức thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và thời đại. Chỉ trong 15 năm, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Trong hoàn cảnh đất nước cùng một lúc phải đương đầu với "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm," Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vượt qua mọi gian khổ, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, buộc đối phương phải ký Hiệp định Geneve. Đây không chỉ là thắng lợi quân sự, mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng để Đảng hình thành và phát triển hoàn chỉnh đường lối chiến tranh nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là giai đoạn thể hiện tập trung, sâu sắc nhất bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo của Đảng. Đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng là cuộc đối đầu không cân sức giữa một dân tộc nhỏ bé với một cường quốc quân sự hàng đầu thế giới. Trong bối cảnh đó, vấn đề không chỉ là ý chí chiến đấu, mà còn là đường lối chiến lược - yếu tố quyết định thành bại của cách mạng.

Kế thừa đường lối chiến tranh nhân dân được hình thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã phát triển sáng tạo, nâng lên tầm cao mới, phù hợp với đặc điểm của cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, quy mô lớn, cường độ cao, sử dụng vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại.

Nhân dân Sài Gòn chào đón đoàn quân giải phóng. (Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN)

Đảng xác định rõ: phải tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài; kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, binh vận; kết hợp sức mạnh của tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc; đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới. Đây chính là sự vận dụng và phát triển hiệu quả lý luận chiến tranh cách mạng trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Điểm đặc sắc trong sự lãnh đạo của Đảng là đã nhận diện đúng yếu tố quyết định thắng lợi. Trong khi đế quốc Mỹ có ưu thế vượt trội về kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật, Đảng ta khẳng định sức mạnh quyết định của ta là ở con người, ở ý chí độc lập dân tộc và ở khối đại đoàn kết toàn dân.

Thực tiễn đã chứng minh nhận định đó: trong suốt cuộc kháng chiến, hơn 3 triệu lượt thanh niên đã lên đường nhập ngũ; hàng triệu dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong tham gia phục vụ chiến trường; cả dân tộc trở thành một khối thống nhất về ý chí và hành động.

Tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh là biểu tượng sinh động cho tầm nhìn và năng lực tổ chức của Đảng. Từ những lối mòn ban đầu, hệ thống này đã phát triển thành mạng lưới giao thông liên hoàn dài hàng nghìn km, vận chuyển khối lượng khổng lồ vũ khí, lương thực, bảo đảm cho chiến trường miền Nam trong suốt cuộc chiến.

Dù đế quốc Mỹ đã sử dụng hàng triệu tấn bom đạn nhưng vẫn không thể cắt đứt được tuyến chi viện chiến lược này. Thực tế đó càng khẳng định tính đúng đắn của đường lối chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Bản lĩnh lãnh đạo của Đảng còn thể hiện ở khả năng tạo ra và nắm bắt thời cơ chiến lược. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã tạo bước ngoặt quan trọng, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán.

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972, đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B.52, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút quân về nước.

Và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Những thắng lợi đó là minh chứng cho chân lý: khi đường lối đúng đắn, khi Nhân dân một lòng tin tưởng và đi theo Đảng, thì sức mạnh của dân tộc sẽ nhân lên gấp bội. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trái tim của tôi và 17 triệu đồng bào miền Bắc luôn luôn đập một nhịp với trái tim của đồng bào miền Nam.”

Chính sự thống nhất ý chí đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đảng lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới

Bước ra khỏi chiến tranh, đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức: nền kinh tế kiệt quệ, cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề, đời sống Nhân dân khó khăn, trong khi mô hình phát triển theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đổi mới không chỉ là đòi hỏi của thực tiễn, mà còn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới từ năm 1986. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và tư duy lý luận sáng tạo của Đảng.

Đổi mới trước hết là tư duy phát triển, bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một mô hình vừa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Quá trình đổi mới cũng đồng thời là quá trình Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng ngày càng toàn diện hơn, thể hiện ở việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại.

Thực tiễn 40 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối đó. Từ một nền kinh tế lạc hậu, thiếu lương thực, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá trong khu vực và trên thế giới. Quy mô nền kinh tế năm 2025 đạt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt trên 5.000 USD. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua các giai đoạn.

Không chỉ đạt được những thành tựu về kinh tế, tiềm lực tổng hợp của đất nước được nâng lên toàn diện. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế có bước phát triển; khoa học-công nghệ từng bước trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng, hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ một quốc gia bị bao vây, cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại nhiều tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương quan trọng, như: ASEAN, Liên hợp quốc. Việc đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế đã cho thấy vai trò, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó là minh chứng sinh động cho bản lĩnh và trí tuệ của Đảng trong lãnh đạo phát triển đất nước.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện.

Đặc biệt, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ, góp phần làm trong sạch bộ máy, qua đó giữ vững niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.

Có thể khẳng định niềm tin của nhân dân đối với Đảng là một giá trị chính trị-xã hội đặc biệt, được hình thành từ thực tiễn lịch sử và tiếp tục được bồi đắp qua từng giai đoạn phát triển.

Từ khi thành lập và trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, đến công cuộc đổi mới và hội nhập hôm nay, Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo và không thể thay thế. Đó chính là nơi hội tụ của muôn vạn tấm lòng, là điểm tựa vững chắc của niềm tin, là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường phát triển.

Trong hành trình phía trước, đất nước còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng với truyền thống đã được hun đúc, với bản lĩnh đã được thử thách và với niềm tin bền chặt của Nhân dân, Đảng ta sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục