Chiếng chèo Khuốc - mạch nguồn di sản giữa đời sống hôm nay

Từ chiếng diễn giản dị của làng Khuốc, di sản sân khấu dân gian đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục tìm thấy vị trí trong đời sống hôm nay, là dấu tích của quá khứ, nguồn lực văn hóa nuôi dưỡng thế hệ mai sau.
Trình diễn Chèo tại làng Khuốc. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Trải qua nhiều thế hệ, chiếng chèo Khuốc vẫn lưu giữ những giá trị nghệ thuật đặc sắc của sân khấu dân gian đồng bằng Bắc Bộ.

Từ những gánh hát từng rong ruổi khắp các vùng quê đến những buổi truyền nghề trong không gian làng, người Khuốc đang bền bỉ gìn giữ di sản được nuôi dưỡng từ đời sống cộng đồng, trao truyền bằng niềm đam mê và tình yêu nghệ thuật truyền thống.

​Từ chiếng chèo dân gian đến dấu ấn một vùng nghệ thuật

Nằm giữa vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, làng Khuốc, xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên từ lâu được biết đến là một trong những cái nôi quan trọng của nghệ thuật chèo truyền thống.

​Theo Hí phường phả lục của Lương Thế Vinh, Khuốc là một trong những địa danh gắn với sự phát triển của nghệ thuật chèo. Dù chưa xác định chính xác thời điểm hình thành chiếng chèo, sự phát triển của các phường hát, gánh hát từ thế kỷ 19 cho thấy chèo sớm giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng.

​Thời kỳ hưng thịnh, làng có hơn chục gánh chèo hoạt động, mang các tích trò biểu diễn tại đình, đền và những dịp hội hè ở nhiều địa phương. Tiếng hát, tiếng trống cùng những câu chuyện sân khấu từ Khuốc theo chân nghệ nhân đến với đông đảo khán giả, góp phần tạo dựng danh tiếng cho một vùng nghệ thuật.

Người dân làng Khuốc tập luyện hát chèo. (Ảnh: TTXVN)

​Câu ca dân gian: ​“Hỡi cô thắt cái lưng xanh; Có xem chèo Khuốc với anh thì về” ​không chỉ là lời mời gọi thưởng thức văn nghệ mà còn phản ánh vị trí của chèo trong đời sống tinh thần cư dân vùng quê lúa. Chèo trở thành niềm tự hào, một nét nhận diện văn hóa của cộng đồng.

Qua các thời kỳ, nhiều nghệ nhân xuất thân từ Khuốc tham gia các đoàn chèo chuyên nghiệp, góp phần đào tạo diễn viên, nhạc công và đưa nghệ thuật truyền thống đến gần hơn với công chúng. Những tên tuổi như Đào Thị Na, Vũ Văn Phụ, Cao Kim Trạch, Phạm Văn Điền, Hà Quang Bổng… được nhiều thế hệ người yêu chèo nhắc nhớ.

​Sức sống của chiếng chèo Khuốc nằm ở những làn điệu được lưu giữ và được thể hiện qua khả năng sản sinh, bồi đắp tài năng mới. Trong quá trình giao lưu với các phường hát và tiếp nhận những tích trò từ nhiều vùng miền, nghệ nhân Khuốc vừa học hỏi vốn nghề, vừa giữ gìn phong cách riêng, tạo nên bản sắc đặc trưng của địa phương.

​Bản sắc nghệ thuật trong từng làn điệu

Kho tàng chèo Khuốc gắn với nhiều vở diễn quen thuộc như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình-Dương Lễ, Trương Viên, Tống Trân-Cúc Hoa, Từ Thức gặp tiên… Các kiểu vai Sinh, Đào, Hề, Lão, Mụ với đặc điểm riêng về giọng hát, dáng điệu và cách thể hiện tạo nên diện mạo sân khấu giàu tính ước lệ.

Các nghệ nhân địa phương cho biết, Khuốc còn lưu giữ nhiều làn điệu cổ đặc sắc như Ván cờ tiên, Đường trường thu không, Tình thư hà vị, Hề đơm đó, Tuyết dạt sông Thương… Mỗi làn điệu có đặc điểm riêng về giai điệu, ca từ, cách nhả chữ và sắc thái biểu cảm, phản ánh vốn nghề được tích lũy qua nhiều thế hệ.

​Nét riêng của chèo Khuốc không chỉ nằm ở số lượng làn điệu cổ mà còn ở cách xử lý từng câu hát. Lời ca phải rõ chữ, tròn vành, có độ ngân phù hợp; nhịp điệu tự nhiên, giữ được sự mộc mạc của tiếng nói dân gian. Cách hát, ngắt nhịp, nhấn chữ, cách diễn và tiếng trống là những yếu tố giúp chèo Khuốc khẳng định vị trí riêng trong nghệ thuật chèo truyền thống.

Trong biểu diễn chèo Khuốc, trống đế giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tiếng trống không chỉ giữ nhịp mà còn đối đáp, nâng đỡ lời ca, làm nổi bật cảm xúc và diễn biến tâm lý nhân vật. Người đánh trống phải hiểu cách hát, nắm được chỗ ngân, chỗ nghỉ để phối hợp nhịp nhàng với người diễn.

Trình diễn Chèo tại làng Khuốc. (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

​Học chèo không đơn thuần là ghi nhớ giai điệu hay lời ca mà còn phải lĩnh hội kỹ thuật biểu diễn, cách xử lý âm thanh, tiết tấu và sắc thái. Những tri thức này chủ yếu được trao truyền qua quan sát, thực hành và kinh nghiệm của nghệ nhân, khó có thể bảo tồn đầy đủ chỉ bằng ghi chép hoặc lưu trữ bản nhạc.

​Người nghệ sỹ chèo phải kết hợp nhiều kỹ năng, từ ca hát, múa đến biểu cảm gương mặt, ánh mắt và động tác hình thể. Bên cạnh đó, chiếc quạt - đạo cụ quen thuộc - có thể trở thành phương tiện để thể hiện tính cách và tâm trạng nhân vật. Với những vai diễn như Thị Kính, Thị Mầu trong vở Quan Âm Thị Kính, sự khác biệt không chỉ nằm ở lời thoại mà còn thể hiện qua dáng đi, ánh nhìn, nhịp múa và cách sử dụng đạo cụ. ​Những yếu tố ấy cho thấy chèo Khuốc lưu giữ cả một hệ thống tri thức biểu diễn chứ không chỉ là những bài hát cổ.

Giá trị của chèo Khuốc không chỉ nằm ở khả năng giải trí mà tiếng cười trên chiếu chèo còn là cách giúp cộng đồng nhìn lại những thói hư tật xấu, bày tỏ thái độ trước bất công và gửi gắm quan niệm về lẽ phải. Những thông điệp đạo đức được truyền tải tự nhiên qua số phận nhân vật, tình huống kịch và ngôn ngữ nghệ thuật sẽ tạo ra gần gũi với người dân.

​Hồi sinh từ tâm huyết của những người giữ nghề

Cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, chèo Khuốc từng trải qua những giai đoạn trầm lắng. Trong những thập niên cuối thế kỷ 20, đời sống kinh tế thay đổi, người trẻ rời quê tìm việc làm, các phương tiện giải trí mới phát triển khiến sinh hoạt chèo có thời kỳ thưa vắng. Việc tập hợp diễn viên, duy trì biểu diễn và truyền dạy gặp không ít khó khăn.

​Từ khoảng năm 2000, hoạt động khôi phục chèo Khuốc có những chuyển biến đáng kể nhờ nỗ lực của nghệ nhân và sự hỗ trợ từ các chương trình bảo tồn. Các lớp truyền dạy được tổ chức, làn điệu cổ được hệ thống hóa, nhà thờ Tổ nghề và không gian sinh hoạt chèo được quan tâm. Những chương trình như Sân khấu học đường cũng mở thêm cơ hội để học sinh tiếp cận nghệ thuật truyền thống.

​Trong quá trình ấy, các nghệ nhân cao tuổi giữ vai trò nòng cốt. Họ nắm giữ vốn nghề từ cách hát, đệm trống đến kỹ thuật diễn xuất và những kinh nghiệm khó tìm thấy trong tài liệu thành văn. Việc học trực tiếp qua nghe, nhìn và thực hành giúp thế hệ sau tiếp cận phong cách biểu diễn trong môi trường gần với cách các thế hệ trước từng học nghề.

Làng Khuốc là là cái nôi của nghệ thuật Chèo đồng bằng Bắc Bộ đến nay vẫn giữ được những làn điệu chèo truyền thống. (Ảnh: Khánh Long/ TTXVN)

​Nghệ nhân Nhân dân Bùi Văn Ro là một trong những người dành nhiều năm gắn bó với công việc truyền dạy, góp phần duy trì hoạt động của Câu lạc bộ Chèo truyền thống làng Khuốc. Những người tâm huyết khác cũng tiếp tục truyền nghề trong gia đình, câu lạc bộ và các buổi sinh hoạt văn nghệ địa phương.

​Tuy nhiên, duy trì câu lạc bộ chưa đồng nghĩa mọi vấn đề bảo tồn đã được giải quyết. Điều quan trọng nằm ở chất lượng truyền dạy, khả năng duy trì sinh hoạt lâu dài và sự tiếp nối của thế hệ trẻ. Với những kỹ thuật đòi hỏi kinh nghiệm, thiếu người truyền nghề có thể khiến tri thức nghệ thuật mai một ngay cả khi tên gọi làn điệu vẫn còn.

​Do đó, công việc của nghệ nhân không chỉ là biểu diễn phục vụ hội làng hay sự kiện văn hóa mà còn là chuyển giao kỹ năng, kinh nghiệm, giúp người trẻ hiểu cách ngân một câu hát, điểm tiếng trống và thể hiện tính cách nhân vật.

​Bên cạnh việc bảo lưu các vở cổ, nghệ nhân làng Khuốc từng tham gia sáng tạo, biểu diễn những tác phẩm phản ánh cuộc sống đương thời. Điều đó cho thấy truyền thống không đồng nghĩa với bất biến. Chèo chỉ có thể duy trì sức sống khi vừa bảo vệ những giá trị cốt lõi, vừa tìm được cách đối thoại với hoàn cảnh lịch sử và nhu cầu thưởng thức của công chúng.

​Trao truyền cho thế hệ trẻ, giữ mạch nguồn di sản

Giữ gìn chèo Khuốc không đơn thuần là lưu lại vài làn điệu hay phục dựng những vở diễn nổi tiếng, mà là duy trì một thực hành văn hóa sống, nơi âm nhạc, ngôn ngữ, động tác, tri thức nghề nghiệp và tình cảm cộng đồng cùng tạo nên giá trị di sản.

Tại Khuốc, truyền nghề cho trẻ em và thanh thiếu niên là hướng đi thiết thực. Các nghệ nhân tận dụng thời gian nghỉ hè, ngày cuối tuần và những buổi sinh hoạt cộng đồng để hướng dẫn các em hát, múa, diễn chèo. Từ những câu hát và động tác đơn giản, người học từng bước tiếp cận làn điệu cổ, cách nhập vai và ngôn ngữ sân khấu.

Việc đưa chèo vào trường học, tổ chức câu lạc bộ thanh thiếu niên và tạo điều kiện để học sinh tham gia hoạt động văn hóa địa phương có thể nuôi dưỡng tình yêu di sản. Mục tiêu lâu dài không chỉ là giúp các em biểu diễn một vài tiết mục trong dịp lễ mà còn hình thành khả năng cảm thụ nghệ thuật, ý thức về cội nguồn và sự trân trọng đối với những người giữ nghề.

Em Phạm Thị Hằng là một trong những diễn viên chèo nhí đã từng đạt giải ở những cuộc thi diễn chèo của tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: TTXVN)

Song song với truyền dạy, công tác tư liệu hóa cần được chú trọng. Các làn điệu cổ, cách hát, lối đệm trống, bài bản múa và lời kể của nghệ nhân nên được ghi âm, ghi hình, biên soạn, lưu trữ có hệ thống. Những tư liệu này cần gắn với người truyền dạy và đặc điểm từng phiên bản, tạo cơ sở nghiên cứu, đối chiếu và phục dựng, đồng thời hỗ trợ chứ không thay thế việc học trực tiếp.

Năm 2023, nghệ thuật chèo Hưng Yên được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi nhận giá trị của vùng đất có truyền thống chèo lâu đời, trong đó Khuốc là một địa chỉ tiêu biểu. Tuy nhiên, danh hiệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng những điều kiện cụ thể để di sản tiếp tục tồn tại: duy trì không gian thực hành, hỗ trợ câu lạc bộ, tạo cơ hội biểu diễn và đào tạo lớp kế cận.

Một hướng đi tiềm năng là kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch văn hóa. Không gian nhà thờ Tổ nghề, những buổi tập chèo, trích đoạn cổ và hoạt động giao lưu nghệ nhân có thể trở thành sản phẩm trải nghiệm đặc trưng. Dù vậy, hoạt động du lịch cần tôn trọng nhịp sinh hoạt và vai trò chủ động của cộng đồng, tránh biến chèo thành tiết mục trình diễn tách rời môi trường văn hóa đã nuôi dưỡng nó.

Trình diễn Chèo tại làng Khuốc, (Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN)

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến sinh kế của người thực hành. Tình yêu nghệ thuật là động lực quan trọng nhưng khó bảo đảm sự tiếp nối nếu người trẻ thiếu thời gian, thu nhập và cơ hội gắn bó lâu dài. Hỗ trợ kinh phí truyền dạy, cơ sở vật chất và cơ chế đãi ngộ phù hợp sẽ góp phần tạo nền tảng bền vững cho công tác bảo tồn.

Trở lại với chiếng chèo Khuốc hôm nay, điều đáng quý không chỉ là những làn điệu cổ hay những vở diễn từng làm nên danh tiếng mà còn là sự hiện diện của những con người bình dị, sau ngày lao động vẫn dành thời gian tập hát, tập múa, đệm đàn và truyền nghề.

Tiếng chèo sẽ còn ngân vang khi làn điệu cổ tiếp tục được trao truyền, người trẻ có cơ hội học nghề và cộng đồng vẫn coi việc giữ chèo là trách nhiệm đối với văn hóa quê hương. Từ chiếng diễn giản dị của làng Khuốc, di sản sân khấu dân gian đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục tìm thấy vị trí trong đời sống hôm nay, không chỉ như dấu tích của quá khứ mà còn là nguồn lực văn hóa được nuôi dưỡng cho các thế hệ mai sau./.

​

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục