Đồng Tháp thí điểm 10 mô hình hợp tác xã gắn với vùng nguyên liệu

Trong 90 ngày, Đồng Tháp triển khai thử nghiệm 10 mô hình hợp tác xã gắn với 10 vùng nguyên liệu chủ lực, hướng tới nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, kết nối thị trường.

Mít là một trong các ngành hàng chủ lực Đồng Tháp triển khai mô hình hợp tác xã gắn với vùng nguyên liệu (Ảnh: Công Trí/TTXVN)
Mít là một trong các ngành hàng chủ lực Đồng Tháp triển khai mô hình hợp tác xã gắn với vùng nguyên liệu (Ảnh: Công Trí/TTXVN)

Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp triển khai thử nghiệm mô hình 90 ngày chuyển đổi hợp tác xã gắn với vùng nguyên liệu có tổ chức, phấn đấu hình thành 10 mô hình hợp tác xã gắn với 10 vùng nguyên liệu thuộc các ngành hàng chủ lực của tỉnh.

Qua đó, từng bước nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã, tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ và kết nối thị trường, góp phần phát triển chuỗi giá trị nông sản.

Theo Kế hoạch số 1553/KH-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mô hình nhằm chuyển đổi hoạt động của một số hợp tác xã nông nghiệp theo hướng nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, quản lý dữ liệu và liên kết thị trường; phát huy vai trò hợp tác xã làm đầu mối tổ chức, điều phối vùng nguyên liệu.

Kết quả thử nghiệm là cơ sở để tỉnh đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng mô hình phù hợp trên địa bàn.

Kế hoạch được triển khai tại các xã, phường có hợp tác xã nông nghiệp và vùng sản xuất tập trung thuộc các ngành hàng chủ lực, có điều kiện phù hợp để tổ chức vùng nguyên liệu.

Các ngành hàng được ưu tiên gồm lúa gạo, xoài, sầu riêng, mít, khóm (dứa), chanh, bưởi, sả, rau màu, cá tra và các ngành hàng phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh.

Cùng đó, tỉnh đặt mục tiêu 100% hợp tác xã tham gia được đánh giá theo bộ tiêu chí gồm 8 nhóm nội dung, lập hồ sơ sức khỏe hợp tác xã và xác định 3 vấn đề ưu tiên cần chuyển đổi. Đồng thời, 100% vùng nguyên liệu tham gia được lập hồ sơ, xác định quy mô, thành viên và hộ liên kết, hạ tầng, quy trình sản xuất, dữ liệu, dịch vụ, thị trường và những điểm nghẽn chính.

ttxvn-dong-thap-go-diem-nghen-de-nang-gia-tri-chuoi-nganh-hang-trai-cay.jpg
Nông dân xã Tân Phước 3, tỉnh Đồng Tháp thu hoạch dứa. (Ảnh: Công Trí/TTXVN)

Mỗi hợp tác xã lựa chọn tối thiểu 3 nội dung chuyển đổi có khả năng thực hiện trong 90 ngày, xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Kết thúc thời gian thử nghiệm, mỗi mô hình phải có báo cáo đánh giá trước và sau chuyển đổi, bộ sản phẩm đầu ra và đề xuất duy trì, mở rộng hoặc điều chỉnh trong vụ sản xuất tiếp theo.

Theo kế hoạch, quá trình thử nghiệm được chia thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 30 ngày, dự kiến từ ngày 20/10/2026 đến ngày 22/1/2027.

Giai đoạn 1, từ ngày 20/10 đến 20/11/2026, tập trung đánh giá hiện trạng hợp tác xã và lập hồ sơ vùng nguyên liệu.

Các đơn vị liên quan đánh giá hợp tác xã theo 8 nhóm nội dung gồm quản trị và điều hành; thành viên và mức độ tham gia; vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất; dịch vụ phục vụ thành viên; tài chính và phương án kinh doanh; dữ liệu và chuyển đổi số; thị trường và liên kết chuỗi; năng lực đổi mới, học hỏi và thích ứng.

Trên cơ sở đánh giá, mỗi hợp tác xã xác định điểm mạnh, điểm yếu, rủi ro và 3 vấn đề ưu tiên cần giải quyết. Các đơn vị đồng thời khảo sát doanh nghiệp, đơn vị thu mua về yêu cầu sản phẩm, quy cách, chất lượng, tiêu chuẩn, sản lượng, thời gian giao hàng, phương thức giao nhận, dữ liệu truy xuất và khả năng liên kết.

Giai đoạn 2, từ ngày 21/11 đến 21/12/2026, tập trung tổ chức lại hoạt động hợp tác xã và vùng nguyên liệu.

Các hợp tác xã củng cố công tác quản trị, phân công nhiệm vụ và trách nhiệm trong điều hành; thống nhất kế hoạch sản xuất về giống, lịch thời vụ, quy trình và tiêu chuẩn sản xuất; tổ chức hoặc hoàn thiện các dịch vụ dùng chung như cung ứng vật tư, kỹ thuật, cơ giới hóa, thu hoạch và vận chuyển.

Cùng với đó, dữ liệu thành viên, diện tích, sản xuất, nhật ký canh tác và truy xuất nguồn gốc được chuẩn hóa. Các hợp tác xã làm việc với doanh nghiệp để xác định nhu cầu thị trường, sản lượng, chất lượng và thời gian cung ứng; tổ chức tập huấn, hướng dẫn và theo dõi quá trình thực hiện.

Giai đoạn 3, từ ngày 22/12/2026 đến 22/1/2027, tập trung đưa thị trường vào vùng nguyên liệu và đo lường kết quả.

Các hợp tác xã vận hành thử quy trình đã thống nhất, tổ chức dịch vụ chung, cập nhật dữ liệu, kết nối doanh nghiệp để xây dựng hoặc ký kết hợp đồng, biên bản ghi nhớ hay phương án tiêu thụ phù hợp với điều kiện thực tế. Đồng thời, các đơn vị xây dựng kế hoạch thu hoạch, sơ chế, vận chuyển; đánh giá lại 8 nhóm tiêu chí sức khỏe hợp tác xã và so sánh các chỉ tiêu trước, sau thử nghiệm.

Để thực hiện mô hình, tỉnh đề ra các nhóm giải pháp về quản trị và tổ chức hoạt động hợp tác xã; tổ chức vùng nguyên liệu và dịch vụ dùng chung; dữ liệu và chuyển đổi số; khoa học, kỹ thuật và nâng cao năng lực; liên kết doanh nghiệp và phát triển thị trường; tài chính và nguồn lực; theo dõi, đánh giá và nhân rộng.

Trong đó, tỉnh chú trọng chuẩn hóa dữ liệu thành viên, diện tích, thửa đất, giống, mùa vụ, sản lượng, máy móc và dịch vụ; hướng dẫn thực hiện nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc, cập nhật dữ liệu vùng nguyên liệu và kết nối với nền tảng dữ liệu số ngành nông nghiệp của tỉnh khi đủ điều kiện.

Các hợp tác xã được hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, quản lý tài chính, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh và hoàn thiện quy trình sản xuất phù hợp với các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, SRP hoặc tiêu chuẩn phù hợp với từng ngành hàng.

ttxvn_dong-thap-thu-hoach-ro-lua-dong-xuan.jpg
Nông dân tỉnh Đồng Tháp thu hoạch rộ lúa Đông Xuân. (Ảnh: Công Trí/TTXVN)

Tỉnh cũng ưu tiên kết nối doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu quá trình tổ chức vùng nguyên liệu, thay vì chỉ tham gia ở khâu thu mua cuối vụ; hỗ trợ xây dựng phương án liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị theo Nghị quyết số 37/2025/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Đồng Tháp về chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong thời gian qua, Đồng Tháp đã hình thành nhiều cánh đồng lớn, vùng chuyên canh, hợp tác xã, tổ hợp tác và hội quán nông dân, từng bước tạo nền tảng phát triển các ngành hàng nông sản chủ lực.

Tuy nhiên, tại một số nơi, việc tổ chức sản xuất và liên kết vùng nguyên liệu còn thiếu đồng bộ; dữ liệu sản xuất chưa đầy đủ; khả năng điều phối mùa vụ, cung ứng dịch vụ, chuẩn hóa quy trình và kết nối thị trường của hợp tác xã còn hạn chế; mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật sự ổn định.

Trong bối cảnh yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, giảm chi phí, tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường và phát triển vùng nguyên liệu có tổ chức, việc củng cố năng lực của hợp tác xã để từng bước thực hiện vai trò đầu mối tổ chức, điều phối vùng nguyên liệu là cần thiết.

Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đến cuối tháng 6/2026, toàn tỉnh có 541 hợp tác xã, với khoảng 161.050 thành viên. Năm 2026, tổng doanh thu các hợp tác xã ước đạt hơn 4.212 tỷ đồng, doanh thu bình quân ước đạt 7,78 tỷ đồng/hợp tác xã/năm.

Tuy nhiên, tỉnh hiện chỉ có khoảng 69,8% hợp tác xã được xếp loại khá và tốt, phản ánh chất lượng hoạt động chưa theo kịp tốc độ phát triển về số lượng./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục