Nhận lời mời của Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Phu nhân sẽthăm chính thức Nhật Bản từ 30/10 đến 2/11/2011.
Chuyến thăm của Thủtướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ đối tácchiến lược với Nhật Bản, mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị hainước ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả.
Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệngoại giao ngày 21/9/1973. Những năm gần đây, giao lưu các cấp luônđược duy trì, hàng năm, hai nước đều có các cuộc gặp cấp cao, trongchuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan tháng10/2010, hai bên đã ký "Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản về phát triểntoàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châuÁ," trong đó có thỏa thuận về nhiều dự án quan trọng trong hợp tác kinhtế giữa hai nước. Tháng 5/2007, hai bên thành lập Ủy ban Hợp tácViệt-Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch.
Hiện nay, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 3 củaViệt Nam. Năm 2010 đã đánh dấu sự phục hồi rõ rệt của thương mại songphương hai nước với mức kim ngạch đạt hơn 16 tỷ USD, tăng gần 22% so vớinăm 2009. Tính đến hết tháng 9/2011, kim ngạch thương mại hai nước đạtxấp xỉ 15 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản đạt gần7,5 tỷ USD, (chủ yếu là các mặt hàng: thủy sản, dệt may, dầu thô, cápđiện, than đá, đồ gỗ… ); nhập khẩu đạt hơn 7,4 tỷ USD với những mặt hàngchủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sảnphẩm điện tử và linh kiện, sắt thép các loại, vải các loại, linh kiệnôtô, nguyên liệu dệt, da…
Từ tháng6/2008, hai bên bắt đầu thực hiện giai đoạn III Sáng kiến chung Việt-Nhật nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Việt Nam, hỗ trợ thúc đẩy tam giác phát triển và hành lang Đông-Tây cũng như hợp tác trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS), nghiêncứu giúp giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông ở Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh... Đến nay, hai nước đã hoàn thành Giai đoạn III sáng kiến chungViệt Nam-Nhật Bản về cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam và chínhthức khởi động Giai đoạn IV Sáng kiến chung với 70 hạng mục.
Tính đếnhết tháng 8/2011, Nhật Bản có 1.572 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lựctại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 21,78 tỷ USD, đứng thứ 4 trongsố 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam.
Những năm qua, kể từ khi nối lại việc cung cấp ODA, NhậtBản đã nhanh chóng trở thành quốc gia cũng cấp ODA lớn nhất cho ViệtNam, tháng 12/2010, Nhật Bản đã cam kết mức viện trợ tài khóa 2010 choViệt Nam là 1,76 tỷ USD, tập trung vào cơ sở hạ tầng, đối phó với biếnđổi khí hậu, xóa đói giảm nghèo. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, Nhật Bản vẫnkhẳng định tiếp tục thực hiện các cam kết ODA dành cho Việt Nam. Bêncạnh đó, hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, dulịch... cũng ngày càng đạt được nhiều kết quả.
Nhật Bản luôn nằm trong số 5 nước có lượng khách du lịch lớnnhất đến Việt Nam, số khách du lịch Nhật Bản chiếm gần 10% tổng lượngkhách vào Việt Nam. Năm 2010, Việt Nam đã đón hơn 442.000 lượt kháchNhật Bản. Trong 9 tháng của năm nay, con số này đạt gần 344.000 lượt.Nhật Bản có nhiều dự án giúp Việt Nam nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo cácngôi nhà ở dân gian truyền thống tiêu biểu ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam.Hai bên cũng đã cử nhiều đoàn sang thăm, làm việc, biểu diễn nghệ thuật,tham dự triển lãm, liên hoan phim, tổ chức Lễ hội tại mỗi nước.
Trungtâm giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam cũng đã được thành lập(3/2008) nhằm tăng cường giao lưu, hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vựcnày. Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước đã phát triểndưới nhiều hình thức: hợp tác giữa hai Chính phủ, giữa các trường học,giữa các tổ chức, giữa các cá nhân. Những năm gần đây, Nhật Bản là mộttrong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành giáo dục vàđào tạo của Việt Nam.
Nhân chuyếnthăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ traođổi các biện pháp nhằm tăng cường quan hệ hợp tác chính trị, ngoại giao,an ninh, quốc phòng, kinh tế, đầu tư, thương mại, ODA, du lịch, laođộng, văn hóa giáo dục... , đồng thời thúc đẩy và đạt được cam kết cụthể trong việc triển khai các nội dung và dự án hợp tác kinh tế mang tầmchiến lược.
Nhật Bản từng được biết đến là quốc gia nghèo tàinguyên, dân số đông và kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh.Mặc dù vậy, nhờ có các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanhchóng phục hồi từ giai đoạn 1945-1954 và tiến tới phát triển cao độtrong những năm 1955-1973. Từ năm 1974 đến nay, tốc độ phát triển kinhtế của Nhật có xu hướng chậm lại, sau sự sụp đổ của nền kinh tế bongbóng đầu những năm 90, kinh tế Nhật lại rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tếchâu Á cuối những năm 90 và cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ toàncầu hiện nay.
Dù gặp nhiều khó khăn, mới đây nhất là những ảnh hưởngnặng nề của thiên tai, động đất, sóng thần và sự cố hạt nhân tại nhà máyFukushima, nhưng Nhật Bản vẫn là một trong những nền kinh tế hàng đầuthế giới với ưu thế về công nghệ tiên tiến; nguồn vốn dồi dào; lực lượnglao động cần cù tay nghề cao; đội ngũ tri thức đông đảo được đầu tưlớn./.
Đỗ Quyên (TTXVN/Vietnam+)