Ngày 16/4, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết thi hành Luật hôn nhânvà gia đình năm 2000 theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểmcầu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Hội nghị tập trung tổng kết thihành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; thảo luận chuyên đề về thực trạng thihành Luật hôn nhân và gia đình; góp ý kiến về mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, phạmvi và những định hướng sửa đổi Luật.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và Kếhoạch phát triển đất nước 2011 - 2015 đã xác định một trong ba khâu đột pháchiến lược là hoàn thiện thể chế. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, ngành Tưpháp đã chủ động, tích cực tham mưu với Chính phủ, Quốc hội trong việc sửa đổiHiến pháp năm 1992 và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp1992 đã đưa ra nhiều quy định tiến bộ, trong đó đặc biệt là chế định về quyềncon người, quyền cơ bản của công dân.
Khẳng định vai trò quan trọng của Luật hôn nhân và gia đình trong hệ thống phápluật Việt Nam, Phó Thủ tướng nêu rõ Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới lĩnh vựcnày, thể hiện ở việc đã ban hành nhiều văn bản pháp luật góp phần hoàn thiện thểchế về lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trên cơ sở đánh giá công tác thi hành Luậthôn nhân và gia đình đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, Phó Thủ tướngNguyễn Xuân Phúc biểu dương những cố gắng, nỗ lực của các bộ, ngành Trung ươngvà các địa phương, đặc biệt là Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan trong việcthực hiện lĩnh vực công tác quan trọng này.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Phó Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra hạnchế, bất cập trong quá trình thực hiện đó là: một số vấn đề đã phát sinh trongthực tiễn nhưng chưa được Luật quy định; có những quy định không cụ thể, rõ ràngdẫn tới nhiều quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình khôngđược bảo đảm… Phó Thủ tướng cho rằng những hạn chế, bất cập này đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng công tác xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đìnhViệt Nam, ảnh hưởng đến việc thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cácbên có liên quan trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
Tại Hội nghị, Phó Thủ tướng đề nghị các đại biểu cần xác định rõ mục tiêu, quanđiểm và những định hướng lớn trong sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2000. Theo Phó Thủ tướng về cơ bản, những mục tiêu và quan điểm mà Ban soạnthảo Dự án Luật đã đưa ra là hợp lý. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng đề nghị nghiêncứu, xây dựng Dự án Luật phải thể hiện được hai quan điểm quan trọng.
Thứ nhấttôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người, bình đẳng giới, bảo vệ bà mẹ,trẻ em, người cao tuổi và những người yếu thế khác trong quan hệ hôn nhân và giađình. Thứ 2 bảo đảm pháp luật về hôn nhân và gia đình vừa thể hiện được các giátrị truyền thống tiến bộ, văn minh của gia đình Việt Nam vừa phù hợp với phápluật và các giá trị chung về hôn nhân và gia đình của các nước trên thế giới,góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế.
Phó Thủ tướng đề nghị cần rà soát, kế thừa và phát huy các quy định hiện hành vàpháp luật về hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ phát triển của đất nước; tiếpthu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhânvà gia đình, nhất là những nước có truyền thống gia đình, văn hóa và điều kiệnkinh tế - xã hội phù hợp với Việt Nam. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý khigiải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình cần tăng cườngcác giải pháp theo hướng bảo đảm cho các bên tự do lựa chọn các phương án xử sựcụ thể; tạo ra cơ chế pháp lý rõ ràng, thống nhất trong việc áp dụng phong tục,tập quán về hôn nhân và gia đình để giải quyết những vấn đề thực tiễn về hônnhân và gia đình của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phó Thủ tướng lưu ý việcxây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình xuất phát từnguyên tắc tôn trọng quyền con người, quyền công dân...
Đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội
Báo cáo tóm tắt Tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 do Thứtrưởng Đinh Trung Tụng trình bày khẳng định Luật hôn nhân và gia đình năm 2000có tác động tích cực đến việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội,giữ gìn và phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc ViệtNam. Luật đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đìnhtiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong giađình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừavà phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng giađình, no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
Báo cáo đã nêu lên những tồn tại qua quá trình thực thi pháp luật. Một số quyđịnh của Luật còn chưa tạo ra cơ chế pháp lý hiệu quả trong điều chỉnh các quanhệ hôn nhân và gia đình vốn có nhiều đặc thù so với các quan hệ dân sự khác. Mộtsố quy định của Luật chưa thực sự phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các quanhệ dân sự - quan hệ tư. Do đó, trong một số quan hệ, các thành viên trong hônnhân và gia đình chưa được quyền lựa chọn phương án ứng xử tốt nhất cho gia đìnhvà bản thân.
Một số quy định của Luật có tính khả thi thấp làm cho việc công nhận, thực hiệncác quyền về hôn nhân và gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Một số quan hệ về hônnhân và gia đình phát sinh trong thực tiễn chưa được Luật quy định hoặc Luật quyđịnh không cụ thể, như: quan hệ nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăngký kết hôn; ly thân; mang thai hộ… Luật còn có những quy định chưa đáp ứng đượcyêu cầu của thực tiễn giao lưu dân sự, hội nhập quốc tế của Việt Nam, như: quyđịnh về tài sản của vợ chồng tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh; quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài…
Ba vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được pháp luật quy định
Vấn đề thứ nhất về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật hôn nhân và gia đình năm2000 chỉ dự liệu một chế độ tài sản pháp định. Theo đó, Luật quy định chung chotất cả các cặp vợ chồng về căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng, vềquyền và nghĩa vụ của vợ chồng và về phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.Về nguyên tắc, đây là chế độ tài sản trong hôn nhân duy nhất được pháp luật thừanhận. Việc áp đặt một chế độ tài sản trong hôn nhân như vậy là cứng nhắc, khôngđáp ứng được những nhu cầu khác nhau của các cặp vợ chồng trong việc thực hiệncác quan hệ tài sản.
Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình đã ghi nhận và bảo vệquyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, việc chứng minh đâu là tàisản riêng trên thực tế hiện nay gặp rất nhiều khó khăn nếu hai bên không có thỏathuận trước hoặc không có các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cụ thể. Qua thựctiễn tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho thấy, việc lập hônước trước hôn nhân là cách ứng xử công bằng và tiến bộ. Đó là cơ sở để bảo vệtài sản riêng của từng cá nhân; trợ giúp kế hoạch dự trù tài sản riêng hay tàisản chung trong hôn nhân, giúp giảm thiểu xung đột và tiết kiệm được án phítranh tụng trong trường hợp ly hôn…
Vấn đề thứ hai, nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợchồng bình đẳng là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và giađình Việt Nam. Tự nguyện trong hôn nhân bao gồm cả tự nguyện trong kết hôn, tựnguyện trong giải quyết các mẫu thuẫn giữa vợ chồng. Khi có mâu thuẫn trong hônnhân, vợ chồng có quyền xác định phương thức giải quyết mâu thuẫn tốt nhất, phùhợp với nguyện vọng, hoàn cảnh của chính họ và gia đình họ thông qua biện pháply thân hoặc ly hôn.
Ly thân là vợ chồng không sống cùng nhau nhưng hôn nhân củahọ vẫn tồn tại, để giảm sự căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng, để cácbên có thời gian suy ngẫm, đánh giá về tình cảm của vợ chồng, trách nhiệm vớicon cái và có thể sửa đổi tính tình để vợ chồng đoàn tụ, tiếp tục chung sống.Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ thừa nhận hai phương thức giảiquyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng là thông qua hòa giải và thông qua việc chấmdứt hôn nhân bằng ly hôn. Chế định ly thân chưa được nhà làm luật Việt Nam thừanhận .
Vấn đề thứ ba, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa có quy định cụ thể vềmang thai hộ. Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2003 của Chính phủvề sinh con theo phương pháp khoa học có quy định: nhà nước nghiêm cấm các hànhvi mang thai hộ và sinh sản vô tính. Trẻ ra đời do thực hiện hỗ trợ sinh sảnphải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sốngđộc thân và họ là cha, mẹ đối với đứa trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật hỗ trợsinh sản (Điều 6, Điều 20). Việc nghiêm cấm hành vi mang thai hộ nhằm tránhnhững tiêu cực đã và đang xảy ra như: mang thai hộ nhằm mua bán trẻ sơ sinh bấthợp pháp, mang thai hộ nhằm lách luật để sinh con thứ ba... Song, việc nghiêmcấm này lại hạn chế mong muốn chính đáng của rất nhiều gia đình hiếm muộn, vôsinh.
Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận giữa người nhờ và người nhận mang thai hộlà loại thỏa thuận gì? Những thỏa thuận này có trái với quan niệm đạo đức truyềnthống không? Biện pháp pháp lý ràng buộc các bên và chế tài pháp lý trong trườnghợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận? Hiện chưa có quy địnhnào điều chỉnh vấn đề này.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe Báo cáo về mục tiêu, quan điểm và định hướngsửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, trong đó nhấn mạnh tới mụctiêu xây dựng Luật hôn nhân và gia đình nhằm đáp ứng các yêu cầu khách quan củathực tiễn hôn nhân và gia đình Việt Nam; công nhận, thực hiện và bảo vệ tốt hơncác quyền nhân thân và tài sản của cá nhân về hôn nhân và gia đình; nâng caotrách nhiệm của cá nhân đối với gia đình; vai trò của gia đình đối với xã hội;vai trò của nhà nước và xã hội đối với gia đình.
Các đại biểu đã nghe các tham luận về thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và giađình trong công tác giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình của ngành Tòaán nhân dân tối cao; thực trạng lồng ghép giới trong các quy định của Luật hônnhân và gia đình năm 2000; thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình trongcông tác kiểm sát giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình của ngành ViệnKiểm sát nhân dân..../.
Quỳnh Hoa (TTXVN)