Đổi mới quản lý an toàn thực phẩm theo hướng phân tích nguy cơ, phòng ngừa sớm

Theo Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm theo hướng dẫn của các tổ chức quốc tế.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, diễn ra từ ngày 17/10 đến 20/11/2026.

Dự thảo Luật hướng tới đổi mới tư duy quản lý an toàn thực phẩm, chuyển từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm dựa trên nguy cơ, chủ động phòng ngừa các mối nguy từ sớm.

Theo định hướng của dự thảo, việc kiểm soát an toàn thực phẩm được thực hiện xuyên suốt chuỗi cung ứng, từ sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, thu hái đến chế biến, sản xuất, kinh doanh và khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Các nguy cơ như tồn dư thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và những tác nhân gây ô nhiễm được xem xét tại từng mắt xích của chuỗi cung ứng.

Cách tiếp cận này nhằm thay đổi phương thức quản lý từ kiểm soát riêng lẻ, ứng phó bị động sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm dựa trên nguy cơ, kết hợp phân tích nguy cơ để phòng ngừa từ sớm.

Phân tích nguy cơ làm căn cứ điều chỉnh biện pháp quản lý

Việc đánh giá nguy cơ được thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (CODEX), trong đó phân tích nguy cơ bao gồm ba nội dung: đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ.

Đánh giá nguy cơ là hoạt động xác định các mối nguy, những yếu tố không bảo đảm an toàn tại từng mắt xích trên cơ sở bằng chứng khoa học và dữ liệu về an toàn thực phẩm. Hoạt động này được thực hiện độc lập với quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ.

Kết quả đánh giá nguy cơ là căn cứ để cơ quan quản lý xem xét, điều chỉnh các biện pháp quản lý, gồm xây dựng, ban hành quy định kỹ thuật về an toàn thực phẩm; kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu; truy xuất nguồn gốc thực phẩm; thực hiện hậu kiểm đối với thực phẩm và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Theo Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm theo hướng dẫn của các tổ chức quốc tế; đồng thời, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.

Để triển khai hoạt động này, việc xây dựng cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia có khả năng liên thông là yêu cầu cần thiết. Dữ liệu dự kiến bao gồm thông tin về vòng đời sản phẩm; cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát và thông tin về ngộ độc thực phẩm.

Cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm được quản lý tập trung, thống nhất. Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin an toàn thực phẩm trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu của toàn ngành; kết nối, chia sẻ thống nhất với hệ thống thông tin, dữ liệu của Ủy ban nhân dân các cấp và hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung quốc gia.

Từng bước xây dựng nền tảng đánh giá nguy cơ

Để chuẩn bị cho việc triển khai phân tích nguy cơ, Bộ Y tế đã thành lập Trung tâm Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm thuộc Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, nhằm thực hiện một số hoạt động đánh giá nguy cơ theo hướng dẫn quốc tế.

Bộ Y tế cũng tổ chức nhiều cuộc họp, hội thảo tham vấn để trao đổi, học tập kinh nghiệm về đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ với các quốc gia như Canada, Ireland, Australia, New Zealand; đồng thời tham khảo kinh nghiệm của những quốc gia có tập quán sinh hoạt, sử dụng thực phẩm tương đồng với Việt Nam.

Ngày 14/10/2026, Cục An toàn thực phẩm và Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia (NIFC) ký kết Biên bản ghi nhớ về triển khai phân tích nguy cơ an toàn thực phẩm.

NIFC đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác với Trung tâm Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm quốc gia Trung Quốc (CFSA), đồng thời trao Biên bản ghi nhớ hợp tác với Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Quốc gia Seoul (SeoulTech), Hàn Quốc.

Song song với các hoạt động hợp tác, Bộ Y tế đẩy mạnh xây dựng thông tư quy định chế độ báo cáo và mẫu biểu báo cáo an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành y tế, phục vụ việc chuẩn bị cơ sở dữ liệu cho công tác phân tích nguy cơ.

Việc đưa phân tích nguy cơ vào thực tế được kỳ vọng giúp cơ quan quản lý chủ động đánh giá, dự báo các mối nguy có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Khi phát hiện mắt xích có nguy cơ cao, cơ quan chức năng có thể tiến hành truy xuất nguồn gốc, thu hồi sản phẩm theo yêu cầu quản lý.

Phương thức quản lý này hướng tới sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, ngăn chặn thực phẩm không an toàn từ gốc và chủ động phòng ngừa nguy cơ ngay từ đầu.

Đây là hướng tiếp cận theo mô hình quốc tế, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm trên cơ sở khoa học, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Bác sỹ Nguyễn Thị Thanh Hương, Phó Giám đốc Bệnh viện, Trưởng Khoa Sơ sinh 2 - Chuyển hóa - Di truyền, Bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh khám cho bệnh nhi. (Ảnh: Đinh Hằng/TTXVN)

Người thắp hy vọng cho trẻ mắc bệnh hiếm

Tại Việt Nam, hiện có khoảng 100 bệnh hiếm với khoảng 6 triệu người mắc. Khoảng 30% trẻ mắc bệnh hiếm tử vong trước 5 tuổi do khó tiếp cận các liệu pháp điều trị.

Bác sỹ phẫu thuật Bệnh viện đa khoa Đồng Nai chúc mừng bệnh nhân sau ca ghép thận thành công. (Ảnh: Lê Xuân/TTXVN)

Đồng Nai thực hiện thành công ca ghép thận đầu tiên

Theo Giám đốc Sở Y tế thành phố Đồng Nai, việc triển khai kỹ thuật ghép thận giúp người dân Đồng Nai và các khu vực lân cận tiếp cận dịch vụ y tế chuyên sâu ngay tại địa phương, giảm chi phí điều trị.