Nông, lâm, thủy sản xuất siêu gần 19 tỷ USD trong 10 tháng năm 2026

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong cơ cấu xuất khẩu 10 tháng, nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với giá trị 32,65 tỷ USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Một dây chuyền chế biến xoài xuất khẩu. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)
Một dây chuyền chế biến xoài xuất khẩu. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Trong 10 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, với tổng giá trị ước đạt 63,02 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, nhóm hàng rau quả, thủy sản và sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng khá, góp phần bù đắp những khó khăn của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, càphê và cao su.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong cơ cấu xuất khẩu 10 tháng, nông sản tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với giá trị 32,65 tỷ USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Tiếp đến là lâm sản đạt 16,13 tỷ USD, tăng 7,3%; thủy sản đạt 10,44 tỷ USD, tăng 11,7%. Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 642,7 triệu USD, tăng 25,1%.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 107,14 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2025. Cán cân thương mại tiếp tục duy trì xuất siêu với mức thặng dư 18,91 tỷ USD, tăng 6,4%.

Xét theo từng mặt hàng, rau quả tiếp tục là điểm sáng với giá trị xuất khẩu đạt 8,32 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 64,8% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Hàn Quốc cũng duy trì mức tăng trưởng tích cực, lần lượt tăng 19,2% và 11,1%.

Kết quả này cho thấy nhu cầu đối với rau quả Việt Nam tiếp tục được duy trì tại các thị trường chủ lực. Việc mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc đang là những yếu tố quan trọng đối với khả năng duy trì đà tăng trưởng của ngành hàng.

Một số mặt hàng nông sản chủ lực khác cũng ghi nhận kết quả tích cực về giá trị. Xuất khẩu hạt tiêu đạt 1,58 tỷ USD, tăng 13,1%, nhờ sản lượng xuất khẩu tăng 17,5%, dù giá xuất khẩu bình quân giảm 3,8%. Hạt điều đạt 4,38 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ, trong bối cảnh khối lượng xuất khẩu giảm nhẹ nhưng giá xuất khẩu bình quân tăng 4,3%.

Đáng chú ý, xuất khẩu càphê tiếp tục có sự phân hóa giữa sản lượng và giá trị. Trong 10 tháng, khối lượng xuất khẩu đạt 1,6 triệu tấn, tăng 18,7%, nhưng giá trị chỉ đạt 7,09 tỷ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân chủ yếu là giá xuất khẩu bình quân giảm gần 20%, xuống còn khoảng 4.528 USD/tấn. Diễn biến này cho thấy dù sản lượng xuất khẩu tăng mạnh, biến động giá trên thị trường quốc tế vẫn ảnh hưởng đáng kể đến giá trị thu về của ngành càphê.

Trong khi đó, xuất khẩu cao su phần nào hạn chế được mức sụt giảm giá trị nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng ở mức hai con số. Giá trị cao su xuất khẩu đạt 2,54 tỷ USD, giảm 2,5%.

Với mặt hàng gạo, khối lượng xuất khẩu đạt 6,8 triệu tấn, tương ứng 3,31 tỷ USD, giảm lần lượt 4,6% và 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Giá gạo xuất khẩu bình quân giảm 5,4%, còn khoảng 484 USD/tấn.

Về thị trường xuất khẩu, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của các mặt hàng nông, lâm, thủy sản Việt Nam, tiếp đến là Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Đáng chú ý, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Riêng với các mặt hàng rau quả, hạt điều, cà phê và gạo, Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ chủ lực, với giá trị xuất khẩu đều tăng hai con số./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Các container hàng hóa tại Johannesburg, Nam Phi. (Ảnh: THX/TTXVN)

Nam Phi mở rộng thị trường xuất khẩu sang ASEAN

Bộ Thương mại, Công nghiệp và Cạnh tranh Nam Phi cho biết chính phủ sẽ tích cực tìm kiếm cơ hội xuất khẩu tại ASEAN, châu Phi, châu Âu, Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Ấn Độ và Trung Quốc.