Hệ thống logistics hiện đại đã giúp Bưởi Soi Hà (Tuyên Quang) thuận lợi xuất khẩu sang thị trường Vương quốc Anh. (Ảnh: Hoàng Hải/ TTXVN)

Phát triển logistics: Xóa khoảng cách địa lý, mở rộng thị trường cho nông sản

Hệ thống logistics đang trở thành yếu tố then chốt giúp nông sản Việt Nam thu hẹp khoảng cách với thị trường tiêu thụ và quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Rút ngắn thời gian giao hàng, giảm tỷ lệ hao hụt và tối ưu chi phí logistics không chỉ là bài toán cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn là chiến lược dài hạn để nâng tầm nông sản Việt. Dù đã có những bước tiến đáng kể, hệ thống logistics vẫn cần một sự đồng bộ hóa toàn diện từ hạ tầng đến chính sách.

Logistics "xóa" khoảng cách địa lý

Không còn là câu chuyện xa vời, hệ thống logistics phục vụ nông sản Việt Nam đang có những bước tiến rõ rệt. Theo ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trước đây, người tiêu dùng ở Hải Phòng hay Quảng Ninh muốn mua sầu riêng tươi hoặc sầu riêng vừa chín cây của Đắk Lắk là điều rất khó. Nhưng hiện nay, nhờ sự phát triển của hệ thống logistics lạnh, chỉ trong vòng 1-2 ngày sau khi đặt hàng, sản phẩm đã có thể đến tay người tiêu dùng.

"Hệ thống logistics của chúng ta đã được cải thiện rất mạnh, phần nào xóa bỏ khoảng cách về mặt địa lý," ông Tiến nhấn mạnh.

Đây là tín hiệu tích cực không chỉ với người tiêu dùng mà còn với cả người nông dân và doanh nghiệp. Khi khoảng cách địa lý không còn là rào cản, vùng sản xuất nông sản có thể tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, giảm phụ thuộc vào thương lái trung gian và chủ động hơn trong việc định giá sản phẩm.

Nhận thức được vai trò của logistics trong phát triển kinh tế địa phương, nhiều tỉnh thành đang chủ động xây dựng hạ tầng thương mại bài bản hơn. Tại An Giang, bà Nguyễn Du Linh Thảo, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh, cho biết Sở đã tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh xây dựng Kế hoạch phát triển hạ tầng thương mại giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2031.

Nội dung trọng tâm của kế hoạch bao gồm quy hoạch hệ thống chợ, các điểm trung chuyển hàng hóa, hạ tầng khu, cụm công nghiệp và hệ thống bến bãi logistics. Trong đó, hoàn thiện hạ tầng giao thông và bến bãi được xác định là yếu tố then chốt giúp rút ngắn khoảng cách và tối ưu hóa chi phí cho doanh nghiệp.

Khi khoảng cách địa lý không còn là rào cản, vùng sản xuất nông sản có thể tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. (Ảnh: TTXVN)

Bà Thảo lý giải khi kinh doanh qua thương mại điện tử, đối tượng khách hàng không còn giới hạn trong phạm vi nội tỉnh mà mở rộng ra ngoài tỉnh, thậm chí sang cả thương mại biên giới. Trong bối cảnh đó, tối ưu chi phí logistics sẽ giúp nâng cao đáng kể sức cạnh tranh của sản phẩm.

Hiện An Giang đang tập trung kêu gọi các nhà đầu tư tham gia các dự án hạ tầng thương mại. Đồng thời, tỉnh định hướng tăng cường phối hợp, liên kết vùng giữa các địa phương phía Nam và phía Bắc nhằm cùng đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp.

Cách tiếp cận của An Giang phản ánh xu hướng chung là phát triển logistics nông sản không thể chỉ dừng ở việc xây thêm kho bãi hay điểm tập kết hàng hóa trong phạm vi một địa phương, mà cần xây dựng được mạng lưới kết nối liên vùng, liên tỉnh, gắn với dòng chảy thực tế của hàng hóa.

Đưa nông sản vươn xa bằng một mạng lưới đồng bộ

Dù đã có những tín hiệu tích cực, bức tranh logistics nông sản vẫn còn những mảng xám cần giải quyết. Theo bà Nguyễn Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Hạ tầng thương mại (Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương), điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở giá cước vận chuyển mà là sự thiếu đồng bộ trong toàn chuỗi lưu thông.

"Có những nơi xây kho nhưng chưa có hàng, có hạ tầng nhưng chưa kết nối tốt với các phương thức vận tải. Vấn đề không chỉ là thiếu, mà là hạ tầng chưa được đặt đúng chỗ và chưa kết nối thành mạng lưới," bà Hương phân tích.

Bên cạnh đó, tư duy "mạnh ai nấy làm" trong quy hoạch địa phương đang cản trở tính liên kết vùng. Một mặt hàng nông sản phải đi qua nhiều tỉnh, qua nhiều phương thức vận tải, nếu mỗi địa phương chỉ quy hoạch logistics trong ranh giới hành chính của mình thì không thể tối ưu hóa chi phí.

Sự bùng nổ của thương mại điện tử cũng đặt ra áp lực mới. Hàng hóa đi sâu vào các khu dân cư, giao đến tận cửa từng hộ gia đình, nhưng không gian cho kho bãi, điểm tập kết tại các đô thị lại chưa phát triển tương xứng. Đặc biệt với nông sản tươi sống, năng lực kho lạnh, sơ chế đóng gói tại nhiều nơi còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao, cản trở đường đi của nông sản đến các thị trường xa.

(Ảnh: PV/Vietnam+)

Một "điểm mù" khác là sự đứt gãy thông tin. Doanh nghiệp sản xuất có hàng, nhà phân phối có nhu cầu, đơn vị vận tải có năng lực, nhưng dữ liệu không gặp nhau. Ngay cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dù đã có, nhưng vẫn nằm rải rác ở các bộ, ngành, thiếu đi "tính logistics" – tức là tính kết nối xuyên suốt.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn mang tính hệ thống, đại diện Bộ Công Thương cho rằng không thể giải quyết từng điểm mù riêng lẻ mà phải nhìn nhận toàn bộ quá trình từ sản xuất, kho bãi, vận tải đến phân phối.

"Ưu tiên của giai đoạn tới không phải là xây thêm bao nhiêu trung tâm logistics, công suất bao nhiêu, mà quan trọng là các trung tâm đó kết nối thế nào và hoạt động có hiệu quả không," bà Hương nhấn mạnh.

Theo đó, quy hoạch mạng lưới logistics phải bám sát dòng chảy hàng hóa. Các trung tâm logistics cần gắn chặt với vùng sản xuất, vùng tiêu thụ và các hành lang vận tải trọng điểm để tránh đầu tư dàn trải. Đồng thời, cần phát huy tối đa vận tải đa phương thức để phù hợp với đặc tính của từng loại nông sản.

Đối với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã không đủ tiềm lực tự xây dựng kho bãi, nhà nước cần có cơ chế khuyến khích phát triển các mô hình "trung tâm logistics dùng chung." Cùng với đó, các mô hình mới phục vụ thương mại điện tử như kho đa kênh, trung tâm chia chọn, logistics ngược (thu hồi hàng hóa) cần được coi là mắt xích bắt buộc của hệ thống phân phối hiện đại.

Đặc biệt, chuyển đổi số trong logistics phải bước qua giai đoạn ứng dụng công nghệ rời rạc để tiến tới "kết nối dữ liệu." Chỉ khi thông tin tồn kho, đơn hàng và vận tải được đồng bộ, chuỗi cung ứng mới thực sự trơn tru.

Về phía cơ quan quản lý, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đang xây dựng thông tư về tiêu chí phân hạng, phân loại trung tâm logistics theo nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 2229/QĐ-TTg. Bộ tiêu chí này được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ định hướng phát triển mạng lưới trung tâm logistics phù hợp với từng vai trò, phạm vi và quy mô phục vụ, tránh tình trạng đầu tư theo phong trào, thiếu hiệu quả./.

Tuyến hành lang kinh tế ven biển của tỉnh Cà Mau đang dần được định hình, gắn kết khai thác-chế biến-xuất khẩu-logistics nhằm tạo chuỗi giá trị đồng bộ. (Ảnh: Huỳnh Anh/TTXVN)
(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục