Kết nối cung cầu hai chiều, mở rộng thị trường cho hàng Việt

Theo các chuyên gia, mục tiêu cuối cùng không chỉ là để hàng hóa đến một địa bàn mới mà tạo được dòng chảy ổn định giữa nơi sản xuất và nơi tiêu dùng.

Tại Sơn La, hơn 98.000 tấn mận được tiêu thụ trong năm 2025 thông qua nhiều kênh. (Ảnh: Quang Quyết/TTXVN)
Tại Sơn La, hơn 98.000 tấn mận được tiêu thụ trong năm 2025 thông qua nhiều kênh. (Ảnh: Quang Quyết/TTXVN)

Kết nối cung-cầu không chỉ là đưa hàng Việt đến những thị trường còn nhiều dư địa tiêu dùng mà còn mở đường để sản phẩm từ các vùng sản xuất; trong đó có miền núi đến gần hơn với người tiêu dùng cả nước và từng bước vươn ra thị trường quốc tế. Với miền núi, dòng chảy hàng hóa vì thế cần được nhìn theo cả hai chiều gồm hàng Việt đi vào vùng cao và sản phẩm vùng cao đi ra thị trường lớn.

Tại xã Đông Giang, thành phố Đà Nẵng mới đây đã có hơn 30 gian hàng giới thiệu hàng Việt, sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) và đặc sản địa phương góp phần tạo thêm cơ hội để người dân tiếp cận hàng Việt chất lượng cao có nguồn gốc rõ ràng, bảo đảm chất lượng với mức giá phù hợp.

Theo ông Nguyễn Quang Lâm, Phó trưởng phòng Quản lý thương mại, Sở Công Thương Đà Nẵng, các phiên chợ vừa là hoạt động xúc tiến thương mại, vừa giúp doanh nghiệp, hợp tác xã quảng bá sản phẩm và người dân vùng cao tiếp cận hàng Việt chất lượng với chi phí hợp lý.

Thế nhưng cũng từ những không gian này, một chiều kết nối khác có thể được mở ra là sản phẩm của địa phương được giới thiệu tới doanh nghiệp, nhà phân phối và người tiêu dùng ngoài khu vực. Bởi miền núi không chỉ là thị trường tiêu dùng mà còn có nhiều sản phẩm nông nghiệp, dược liệu, thực phẩm chế biến, thủ công mỹ nghệ và sản phẩm gắn với văn hóa bản địa.

Thực tế, một số sản phẩm đã bắt đầu đi theo dòng chảy này như miến dong của Hợp tác xã Tài Hoan từng bước chuẩn hóa sản xuất, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường; đến năm 2025, sản lượng tiêu thụ đạt 390 tấn, gần gấp 4 lần năm 2018.

Tương tự, tại Sơn La, hơn 98.000 tấn mận được tiêu thụ trong năm 2025 thông qua nhiều kênh; trong đó, có các hệ thống bán lẻ như Go!, Saigon Co.op, WinCommerce, cùng hàng không và thương mại điện tử. Riêng hệ thống bán lẻ của Saigon Co.op tăng lượng thu mua 30%.

Những kết quả này cho thấy khi cung được tổ chức phù hợp với cầu, sản phẩm miền núi không nhất thiết chỉ tiêu thụ tại địa phương hay phụ thuộc vào thương lái mà có thể đi vào hệ thống bán lẻ, thương mại điện tử, du lịch và những thị trường xa hơn.

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có thể tiếp cận nhiều không gian thị trường, từ hệ thống phân phối hiện đại tại đô thị, thương mại điện tử và bán hàng đa nền tảng đến du lịch văn hóa, thị trường quà tặng, sức khỏe, tiêu dùng xanh và thương mại tại địa phương, khu vực biên giới.

Điểm quan trọng là mỗi sản phẩm cần tìm được đúng thị trường. Không phải sản phẩm nào cũng phù hợp với siêu thị quy mô lớn. Ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng: Sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số có những đặc điểm khác với hàng hóa sản xuất quy mô lớn nên cần thích ứng về sản phẩm, tổ chức sản xuất và kênh thương mại. Có sản phẩm phù hợp với siêu thị, nhưng cũng có sản phẩm phát huy tốt hơn qua du lịch trải nghiệm, thương mại điện tử hoặc các kênh chuyên biệt.

Câu chuyện cây na tại xã Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn cho thấy rõ hơn khoảng cách giữa sản phẩm và thị trường. Ông Lê Đức Hải, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng cho biết: Cây na được trồng trên vùng núi đá vôi có thời gian bảo quản chỉ khoảng một tuần. Phần lớn sản phẩm hiện vẫn được thương lái thu mua tại vườn, trong khi hợp tác xã muốn mở rộng sang các kênh như quà tặng, siêu thị và chuỗi trái cây sạch.

ttxvn_man-nong-san-6965.jpg
Đưa hàng Việt về miền núi và đưa sản phẩm miền núi ra thị trường không phải hai hoạt động tách rời. (Ảnh: Lê Đông/TTXVN)

Theo ông Lê Đức Hải, để đưa sản phẩm đến nhiều khách hàng hơn, hợp tác xã cần hoàn thiện bao bì, xây dựng thương hiệu, gắn mã QR truy xuất nguồn gốc, có kho tập kết và tăng cường bán hàng qua Zalo, Facebook, TikTok Shop. Vì vậy, hợp tác xã cũng mong muốn mở rộng kết nối qua các hội chợ, hoạt động xúc tiến thương mại và tìm kiếm cơ hội tại thị trường Trung Quốc.

Từ câu chuyện của cây na, yêu cầu đối với kết nối cung-cầu hiện không chỉ là tìm một nơi tiêu thụ. Sản phẩm phải có khả năng đáp ứng yêu cầu của từng thị trường, từ chất lượng, bao bì, truy xuất đến bảo quản, logistics và khả năng cung ứng. Với những sản phẩm có thời gian bảo quản ngắn, việc xây dựng kho tập kết, chuỗi bảo quản và tổ chức vận chuyển có thể quyết định khả năng đi xa của hàng hóa.

Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cũng chỉ ra 5 điểm nghẽn lớn đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nguồn cung, truy xuất, thương mại hóa giá trị văn hóa, logistics và năng lực tham gia các kênh phân phối. Do đó, xúc tiến thương mại cần chuyển từ hỗ trợ theo sự kiện sang kết nối có chọn lọc giữa cung và cầu, tăng vai trò của nhà phân phối, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng chuẩn sản phẩm và phát triển logistics theo vùng.

Ở chiều ngược lại, đưa hàng Việt đến gần người tiêu dùng miền núi cũng cần được tổ chức theo hướng tạo dựng thị trường lâu dài. Theo ông Nguyễn Quang Lâm, các phiên chợ tại Đà Nẵng vừa giúp người dân vùng cao tiếp cận hàng Việt chất lượng, vừa tạo cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã quảng bá sản phẩm. Như vậy, một hoạt động kết nối có thể đồng thời tạo cầu cho hàng Việt và tạo cung cho những sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Tại tỉnh Lâm Đồng, ông Lê Minh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý thương mại, Sở Công Thương nhấn mạnh: Việc phát triển các điểm bán hàng, thương mại điện tử, xúc tiến thương mại và chương trình hàng Việt kết nối thị trường nước ngoài, đồng thời nâng chất lượng thương hiệu, bao bì và truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm đặc trưng. Đây là những yếu tố giúp sản phẩm địa phương không chỉ bán được một lần mà có khả năng tiếp cận những nhóm khách hàng rộng hơn.

Điểm đáng chú ý là thị trường nước ngoài không nhất thiết phải bắt đầu từ những đơn hàng lớn. Với sản phẩm miền núi, quá trình này có thể bắt đầu từ việc chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, tìm đúng đối tác và từng bước hình thành năng lực cung ứng. Cùng đó, trường hợp Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng tìm kiếm cơ hội tại Trung Quốc cũng cho thấy nhu cầu mở rộng thị trường đang đi cùng yêu cầu nâng cấp chính sản phẩm.

Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh: Hiệu quả của xúc tiến thương mại cần được nhìn từ những kết quả thực tế như khách hàng quay lại, doanh thu ổn định, đơn hàng lặp lại và các mối quan hệ thương mại lâu dài, thay vì chỉ tính số lượng sản phẩm được giới thiệu tại các hội chợ. Đây cũng là điểm then chốt của kết nối cung-cầu bởi một phiên chợ có thể tạo ra cuộc gặp đầu tiên giữa người bán và người mua nhưng thị trường chỉ thực sự hình thành khi cuộc gặp đó chuyển thành đơn hàng, rồi thành những lần mua tiếp theo. Với sản phẩm miền núi, quá trình này càng đòi hỏi sự phối hợp giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp phân phối, nền tảng thương mại điện tử và hệ thống logistics.

Khi nhìn theo hướng đó, đưa hàng Việt về miền núi và đưa sản phẩm miền núi ra thị trường không phải hai hoạt động tách rời. Cùng một hệ thống kết nối cung-cầu có thể vừa mở rộng sức mua cho hàng Việt tại những địa bàn còn dư địa, vừa giúp sản phẩm địa phương tìm được khách hàng ở các đô thị, trên môi trường số và tại thị trường quốc tế.

Theo các chuyên gia, mục tiêu cuối cùng không chỉ là để hàng hóa đến một địa bàn mới mà tạo được dòng chảy ổn định giữa nơi sản xuất và nơi tiêu dùng. Hàng Việt từ các trung tâm sản xuất có thêm thị trường ở miền núi; sản phẩm miền núi có thêm đường vào hệ thống phân phối, đến tay người tiêu dùng cả nước và từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu. Bởi nếu hai chiều cung - cầu cùng được kết nối, không gian của thị trường trong nước cũng được mở rộng còn những sản phẩm đặc trưng của vùng cao có thêm cơ hội chuyển lợi thế địa phương thành giá trị hàng hóa./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục