Việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính không chỉ là câu chuyện thay đổi địa giới trên bản đồ mà còn là cơ hội để tổ chức lại không gian kinh tế, hình thành các vùng nguyên liệu lớn và tháo gỡ "nút thắt" chuỗi cung ứng cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đây là nhận định được đưa ra tại Tọa đàm “Thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 18/9.
Từ nút thắt manh mún tới cơ hội tổ chức lại không gian kinh tế
Từ trước đến nay, khi nhắc đến các tỉnh vùng cao, rào cản lớn nhất luôn là sự ngăn cách về địa lý, hành chính và quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ thực tế trước đây một xã miền núi có khi chỉ sở hữu vùng sản xuất vỏn vẹn 5-7 ha. Sự manh mún này dẫn đến bài toán hóc búa về logistics.
Từ năm 2018, khi Chương trình OCOP được triển khai, dù đã kết nối với nhiều hệ thống phân phối lớn như Saigon Co.op, MM Mega Market, Big C hay Central Retail, nhưng các doanh nghiệp đều thừa nhận sự "bất khả thi" trong khâu vận chuyển. Việc gom sản phẩm từ một xã hẻo lánh ở Gia Lai hay Đắk Nông về trung tâm thu mua tại Lâm Đồng thường không đủ một chuyến xe 500 kg, khiến chi phí vận chuyển bị đội lên rất cao, phá vỡ chuỗi cung ứng.
Đồng tình với quan điểm này, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chỉ rõ: "Các sản phẩm của Việt Nam có các mắt xích trong chuỗi, nhưng chưa liên kết được với nhau". Vùng nguyên liệu nhỏ, tản mát đẩy chi phí logistics lên cao; trong khi cơ sở chế biến lại nằm xa vùng nguyên liệu do hạ tầng cơ sở yếu kém. Đây là những yếu tố cơ bản chia cắt chuỗi, khiến dù có xúc tiến thương mại hay có nhiều đơn hàng, chúng ta vẫn không thể cung cấp đủ.
Theo các chuyên gia, cuộc cách mạng về cải cách hành chính, đặc biệt là việc sáp nhập, sắp xếp lại các địa phương hiện nay đang tạo ra những dư địa phát triển rất lớn. Nhiều xã hiện nay có quy mô tương đương cấp huyện trước đây, được phân cấp mạnh mẽ từ quy hoạch vùng nguyên liệu, cấp mã số vùng trồng đến hỗ trợ doanh nghiệp.
Ông Tô Hoài Nam nhấn mạnh khi sắp xếp lại các đơn vị hành chính, chúng ta phải hình dung đây là việc "sắp xếp lại không gian kinh tế", chứ không đơn thuần là vẽ lại địa giới trên bản đồ. Một tỉnh mới có thể hội tụ cả miền núi, đồng bằng và cảng biển, mở ra không gian lưu thông xuyên suốt. Để tận dụng điều này, cần hình thành một bản đồ chung về vùng nguyên liệu làm "đầu nguồn", đi kèm với quy hoạch chung về cơ sở chế biến, hạ tầng logistics và chiến lược thị trường.
Ông Nam cũng đề xuất Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực cho hạ tầng, quy hoạch và dữ liệu dùng chung; trong khi doanh nghiệp tập trung vào thương mại và phân phối. Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ thiết thực về tín dụng, cơ chế bảo lãnh và thông tin thị trường theo cách "cầm tay chỉ việc" từ các Hiệp hội.
Điển hình từ sự liên kết và vai trò của "đầu tàu"
Thực tế đã chứng minh, khi có sự liên kết vùng và chuỗi dọc, nông nghiệp miền núi hoàn toàn có thể bứt phá. Ông Nguyễn Minh Tiến dẫn chứng Gia Lai và Sơn La là những địa phương điển hình trong phát triển nông nghiệp sau khi đưa giống mới, quy trình mới và cách làm mới vào sản xuất, góp phần hình thành các vùng nguyên liệu như chanh dây, xoài.
Trước đây, khi nhắc đến trái cây, nhiều người thường nghĩ đến Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, hiện nay một số tỉnh miền núi như Sơn La, Gia Lai đã trở thành trọng điểm vùng nguyên liệu. Qua sự thành công của các địa phương này, ông Tiến khẳng định việc liên kết và gắn vùng tạo ra vùng sản xuất quy mô lớn. Từ đó, nếu liên kết được với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp đầu tàu thì mới phát triển bền vững.
Trước đây, Sơn La cũng trồng nhiều loại trái cây như xoài Yên Châu, xoài Mộc Châu, mận, đào, nhưng vào mùa thu hoạch rất khó tiêu thụ do khoảng cách địa lý lớn về Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Nếu không có doanh nghiệp "đầu tàu" vận hành, việc hỗ trợ bà con nông dân gặp nhiều trở ngại.
Những năm gần đây, liên kết vùng và liên kết theo chuỗi dọc giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với người nông dân đã tạo dấu ấn rõ nét, đặc biệt tại Gia Lai. Điều này khẳng định sự đúng đắn của định hướng sáp nhập và nâng tầm cấp xã. Hiện nay, cấp xã đã được phân cấp nhiều nhiệm vụ như quy hoạch vùng nguyên liệu, cấp mã số vùng trồng và hỗ trợ doanh nghiệp.
Ở quy mô cơ sở, sức mạnh của sự liên kết cũng mang lại đổi thay rõ rệt. Bà Lộc Thị Thoa, Đại diện Tổ hợp tác sản xuất và kinh doanh chè Tán Ma Hiền Kiệt cho biết, từ khi chuyển từ làm ăn riêng lẻ sang mô hình tổ hợp tác, người dân đã biết liên kết vùng nguyên liệu, chia sẻ cách chăm sóc, thu hái và thống nhất chất lượng, đơn giá.
Nhờ đó, chè Tán Ma được làm bài bản, có thương hiệu. Tổ hợp tác không chỉ giúp nâng cao thu nhập, hạn chế tình trạng người dân đi làm ăn xa, mà còn góp phần bảo tồn giống chè quý, giữ gìn kinh nghiệm chế biến truyền thống và gắn kết với đời sống văn hóa của đồng bào địa phương.
Để tiếp tục mở rộng không gian phát triển, ông Nguyễn Minh Tiến cho rằng xúc tiến thương mại phải tiếp cận theo toàn bộ chuỗi. Thời gian tới, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, hình thành hệ thống dữ liệu "đúng, sạch, đủ." Sự kết nối chặt chẽ về không gian kinh tế giữa các tác nhân không chỉ tạo ra giá trị gia tăng mới cho ngành nông nghiệp mà còn là "chìa khóa" để nâng cao đời sống bền vững cho người dân và các chủ thể OCOP vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Từ câu chuyện chè Tán Ma đến những vùng nguyên liệu chanh dây, xoài ở Sơn La, Gia Lai, tất cả đều chỉ ra một hướng đi chung rằng liên kết vùng không phải là khẩu hiệu, mà là điều kiện sống còn để sản phẩm miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thoát khỏi vòng luẩn quẩn nhỏ lẻ, tìm được vị trí xứng đáng trong chuỗi giá trị quốc gia và quốc tế./.
Phát triển vùng: Từ tư duy mảnh ghép sang không gian kết nối đa tầng
Các chuyên gia đề xuất tổ chức lại không gian phát triển theo hướng chuyên môn hóa, tăng cường liên kết nội vùng và liên vùng, gắn quy hoạch với nguồn lực để tạo động lực tăng trưởng mới.