Đồng bằng sông Cửu Long - vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn nhất cả nước đang đối mặt với những thách thức chưa từng có về an ninh nguồn nước.
Với tổng lượng nước trung bình hằng năm khoảng 488 tỷ m3 nhưng có tới 97% là nước mặt phụ thuộc vào dòng chảy xuyên biên giới, khu vực này đang trở nên dễ bị tổn thương trước các hoạt động khai thác ở thượng nguồn và biến đổi khí hậu.
Trong những năm gần đây, dòng chảy mùa khô từ thượng nguồn về hai trạm Tân Châu và Châu Đốc đã giảm trung bình 13%, đặc biệt giai đoạn 2015-2016 giảm sâu tới 36%, khiến xâm nhập mặn lấn sâu và sụt lún đất gia tăng nghiêm trọng.
Thực trạng này đã được các chuyên gia, nhà quản lý phân tích tại Hội thảo "An ninh nguồn nước cho Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu" do Báo Tiền Phong phối hợp cùng Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ tổ chức ngày 22/3 tại Cần Thơ. Nguy cơ hiện hữu từ những tác động ngoại biên
Tại hội thảo, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đã đưa ra những đánh giá mang tính cảnh báo về thực trạng nguồn nước và hạn mặn.
Theo Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Phú Quỳnh, Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu các tác động ngoại biên nghiêm trọng và không thể đảo ngược. Lưu vực sông Mekong có diện tích 795.000km2, trong đó phần lưu vực tại Việt Nam chỉ chiếm 8% nhưng lại là nơi tiếp nhận toàn bộ hệ quả từ các quốc gia thượng nguồn.
Số liệu phân tích cho thấy sự đóng góp dòng chảy của các quốc gia rất khác nhau: Trung Quốc đóng góp 16%, Lào 35%, Thái Lan và Campuchia mỗi nước 18%, trong khi Việt Nam là 11%.
Sự phát triển của các hệ thống thủy điện và công trình điều tiết ở thượng lưu đã làm suy giảm lượng phù sa, bùn cát và thay đổi hoàn toàn quy luật dòng chảy tự nhiên. Điều này kết hợp với biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang định hình lại một diện mạo mới cho đồng bằng với các đặc trưng bất lợi hơn rất nhiều so với trước đây.
Phó Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Phú Quỳnh nhấn mạnh tác động do phát triển nội tại gây lún sụt đất, hạ thấp cao trình đồng bằng đang diễn ra ở mức độ rất nghiêm trọng, làm giảm khả năng chống chịu của vùng trước thiên tai.
Phân tích sâu hơn, ông Quỳnh cho biết sự suy giảm bùn cát và phù sa là một "vết thương" âm thầm nhưng cực kỳ nghiêm trọng đối với cấu trúc địa chất của đồng bằng.
Khi lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về giảm mạnh (dự báo chỉ còn khoảng 5-10% so với tự nhiên), hệ thống sông ngòi mất đi khả năng bồi lắng, dẫn đến lòng sông bị hạ thấp trung bình từ 2-3m ở nhiều đoạn. Điều này tạo điều kiện cho nước biển lấn sâu vào nội đồng nhanh hơn và xa hơn, ngay cả trong những năm có lượng mưa trung bình.
Ông Quỳnh kiến nghị cần chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy "chống đỡ" sang "thích nghi có kiểm soát." Điều này có nghĩa là phải chủ động tạo ra một chế độ nước mới trên nền tảng quy luật tự nhiên đã thay đổi, thay vì cố gắng giữ lại nguyên trạng vốn đã không còn khả thi.
Việc vận hành liên hệ thống thủy lợi trong vùng phải được điều phối bằng công nghệ số, hướng tới đa mục tiêu: vừa ngăn mặn, trữ ngọt, vừa phải đảm bảo dòng chảy để tự làm sạch nguồn nước và duy trì hệ sinh thái.
Chia sẻ về thực trạng tại địa phương, ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ cho biết mặc dù Cần Thơ nằm ở trung tâm vùng với hệ thống sông ngòi dày đặc nhưng cũng không tránh khỏi tác động của biến đổi khí hậu. Tình trạng ngập úng do triều cường, hạn hán và xâm nhập mặn vào mùa khô đang trở nên phổ biến hơn. Đặc biệt, nhu cầu khai thác và sử dụng nước ngày càng lớn trong khi nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm đã dẫn đến tình trạng sạt lở bờ sông và sụt lún đất gia tăng.
Trước thực tế đó, ông Nguyễn Hoàng Anh khẳng định thành phố đã xác định việc nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước là nhiệm vụ trọng tâm trong quy hoạch phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thành phố đang tập trung phát triển các công trình trữ nước ngọt phục vụ mùa khô và ưu tiên sử dụng nước mặt, giảm dần khai thác nước dưới đất nhằm hạn chế sụt lún. Tuy nhiên, những thách thức này đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, liên vùng và liên quốc gia thay vì những nỗ lực đơn lẻ của từng địa phương.
Kiến tạo giải pháp quản trị tài nguyên nước bền vững
Tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) chỉ rõ những điểm nghẽn và định hướng chính sách trong bối cảnh mới.
Ông Khuyến cung cấp số liệu đáng lo ngại khi lượng nước bình quân đầu người trong mùa khô tại lưu vực sông Cửu Long chỉ còn khoảng 2.200 m3/người. Với việc nguồn nước mặt chiếm tới 97% và chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài, sự chủ động của Việt Nam bị hạn chế đáng kể.
Để đảm bảo an ninh nguồn nước, Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra những chỉ tiêu rất cụ thể. Đến năm 2030, phấn đấu 100% các vị trí giám sát dòng chảy xuyên biên giới phải được giám sát tự động, trực tuyến. Đồng thời, 100% các nguồn nước liên tỉnh phải được công bố khả năng tiếp nhận nước thải và sức chịu tải.
Ông Khuyến nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm là phải quản lý chặt chẽ các hành lang bảo vệ nguồn nước, không để xảy ra tình trạng san lấp hồ, ao, kênh rạch trái phép và đảm bảo 100% nước thải đô thị được xử lý đạt chuẩn trước khi xả vào nguồn nước. Việc vận hành liên hồ chứa và ứng dụng công nghệ số trong giám sát khai thác là yếu tố then chốt để thích ứng với các kịch bản nguồn nước khắc nghiệt trong tương lai.
Ông Nguyễn Minh Khuyến nhấn mạnh rằng thách thức lớn nhất trong quản trị tài nguyên nước hiện nay là sự phân mảnh và thiếu tính liên kết. Với lượng nước bình quân đầu người trong mùa khô chỉ đạt 2.200 m3/người - mức thấp đáng báo động theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc sử dụng nước lãng phí hoặc gây ô nhiễm là ảnh hưởng lớn đối với tương lai của đồng bằng. Ông khẳng định các quy định về hành lang bảo vệ nguồn nước phải được coi là "lằn ranh đỏ" trong phát triển đô thị và công nghiệp.
100% hồ, ao, kênh rạch đóng vai trò điều tiết và bảo vệ nguồn nước sẽ phải được công bố danh mục "không được san lấp" để giữ lại không gian trữ nước tự nhiên. Bên cạnh đó, việc giám sát trực tuyến 100% các cơ sở xả thải là điều kiện tiên quyết để bảo vệ sức chịu tải của dòng sông.
Ông Khuyến cũng đề xuất cần sớm xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi ích về nguồn nước giữa các tỉnh thượng lưu và hạ lưu trong vùng, đảm bảo mọi người dân đều có quyền tiếp cận nguồn nước sạch công bằng trong bối cảnh khan hiếm gia tăng.
Đồng quan điểm về tính cấp thiết của vấn đề, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong, đại diện Ban Tổ chức hội thảo, cho rằng đang có một nghịch lý hiện hữu tại vùng đất trù phú này là giữa mạng lưới sông ngòi chằng chịt, người dân lại đang phải chắt chiu từng can nước ngọt để sinh hoạt. Những cánh đồng nứt nẻ, vườn cây héo úa do mặn xâm nhập không còn là hiện tượng cá biệt mà đã trở thành thực tế lặp đi lặp lại hằng năm.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tiến, an ninh nguồn nước không chỉ là câu chuyện của tài nguyên mà là câu chuyện của tương lai và sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân. Cuộc khủng hoảng nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long là một lời nhắc nhở rõ ràng rằng chúng ta phải thay đổi tư duy quản trị từ bị động ứng phó sang chủ động thích nghi, từ tư duy nhiệm kỳ ngắn hạn sang tầm nhìn chiến lược dài hạn và đặc biệt là từ sự chia cắt địa giới hành chính sang liên kết vùng chặt chẽ.
Ông Tiến khẳng định việc coi an ninh nguồn nước là nền tảng của an ninh phát triển chính là chìa khóa để bảo vệ Đồng bằng sông Cửu Long trước những biến động khó lường của khí hậu và các hoạt động kinh tế thượng nguồn./.
Ngày Nước thế giới: Cấp thiết quản trị tài nguyên nước, thúc đẩy kinh tế xanh
Ngày Nước Thế giới 2026 nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết của quản trị nước hiệu quả gắn với thúc đẩy kinh tế xanh và đề cao bình đẳng giới như một giải pháp bền vững, để bảo vệ "mạch nguồn" sự sống.