Tăng trưởng 2 con số và nhiệm vụ huy động vốn của thị trường chứng khoán

Trước nhu cầu vốn ngày càng lớn, khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp và đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh sẽ là yếu tố quan trọng để thị trường tiếp tục đồng hành với mục tiêu tăng trưởng cao.
Khách hàng giao dịch tại Hội sở Agribank, phố Láng Hạ, Hà Nội. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030 đặt nền kinh tế trước nhu cầu vốn đầu tư khoảng 38,5 triệu tỷ đồng; trong đó, ngân sách nhà nước dự kiến đáp ứng khoảng 20%, phần còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân và các nguồn vốn quốc tế.

Thị trường vốn và thị trường chứng khoán được kỳ vọng đóng góp khoảng 10 triệu tỷ đồng.

Ở quy mô hiện tại, thị trường chứng khoán đã trở thành một kênh dẫn vốn đáng kể của nền kinh tế.

Trước nhu cầu vốn ngày càng lớn, khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp và đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh sẽ là yếu tố quan trọng để thị trường tiếp tục đồng hành với mục tiêu tăng trưởng cao.

Tăng trưởng cao kéo theo nhu cầu vốn lớn

Một nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm cũng đồng nghĩa với nhu cầu đầu tư lớn hơn. Theo Tiến sỹ Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, Kinh tế trưởng BIDV, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 48% các kênh dẫn vốn được tính toán, trong khi thị trường chứng khoán khoảng 6% và trái phiếu doanh nghiệp khoảng 9,4%.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 được ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng; trong đó, vốn ngân sách nhà nước khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 20%, phần còn lại phải đến từ khu vực tư nhân và nguồn vốn quốc tế.

Theo ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, mục tiêu đóng góp của thị trường vốn và thị trường chứng khoán khoảng 10 triệu tỷ đồng trong giai đoạn này, bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm. Tổng lượng vốn huy động qua thị trường chứng khoán dự kiến khoảng 5,4 triệu tỷ đồng trong 5 năm, cao hơn 2 lần giai đoạn 2020-2025.

Cùng với tín dụng ngân hàng, ngân sách nhà nước và nguồn vốn quốc tế, thị trường chứng khoán sẽ tham gia đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế.

Khách hàng giao dịch tại Hội sở chính Công ty Chứng khoán Bảo Việt. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Vũ Thị Chân Phương cho biết đến cuối tháng 9/2026, vốn hóa trên hai sở giao dịch đạt khoảng 404 tỷ USD, tương đương 81,7% GDP. Giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân từ đầu năm đạt khoảng 1 tỷ USD mỗi ngày, trong khi số lượng tài khoản chứng khoán khoảng 13,9 triệu.

Quy mô này cho thấy thị trường chứng khoán đã có vị trí đáng kể trong hệ thống tài chính. Tuy nhiên, quy mô vốn hóa và thanh khoản chưa phản ánh đầy đủ khả năng huy động vốn mới cho doanh nghiệp.

Để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao, thị trường cần tiếp tục nâng khả năng huy động và hướng nguồn lực vào những doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất và kinh doanh.

Bộ Tài chính đang tập trung hoàn thiện Luật Chứng khoán, triển khai các cơ chế thí điểm, cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính; phát triển nguồn cung vốn, đa dạng hóa sản phẩm và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp niêm yết.

Cùng đó là định hướng khuyến khích doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có quản trị tốt và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài niêm yết; phát triển trái phiếu xanh, sản phẩm phái sinh; mở rộng sự tham gia của nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài; hoàn thiện cơ chế đối tác bù trừ trung tâm và hiện đại hóa hệ thống giám sát.

Mở thêm dư địa cho doanh nghiệp

Tăng trưởng 2 con số tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh, kéo theo nhu cầu vốn lớn hơn. Tuy nhiên, tăng trưởng GDP và diễn biến giá cổ phiếu không phải lúc nào cũng cùng chiều.

Theo bà Nguyễn Thị Bình Minh, Giám đốc Trung tâm Kinh doanh, Công ty cổ phần Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam, tăng trưởng GDP và giá cổ phiếu chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Thị trường đã chuyển khỏi môi trường tiền rẻ, trong khi lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ở mức cao tạo sức ép lên đồng USD, dòng vốn, tỷ giá và dư địa điều hành lãi suất trong nước.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm từng lên 5,34%, cao nhất trong 24 năm và tăng 80 điểm cơ bản trong quý 3. Dù số liệu việc làm yếu hơn làm giảm khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tăng lãi suất trong tháng 10, lợi suất kỳ hạn 10 năm vẫn quanh 5,28%.

Những yếu tố này tác động đến chi phí vốn, dòng tiền và định giá tài sản, qua đó ảnh hưởng đến cách thị trường chứng khoán phản ánh triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế.

Khách hàng giao dịch tại Hội sở chính Công ty Chứng khoán Bảo Việt tại Hà Nội. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế vẫn tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, doanh thu và lợi nhuận. Mức độ hưởng lợi giữa các nhóm ngành và từng doanh nghiệp sẽ khác nhau, tùy thuộc vào khả năng kiểm soát chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, sức khỏe tài chính và vị thế trên thị trường.

P/E (hệ số giá trên lợi nhuận) của VN-Index hiện khoảng 12,1 lần, thấp hơn khoảng 12% so với mức bình quân 3 năm là 13,8 lần. Mặt bằng định giá này tạo dư địa nhất định, nhưng P/E thấp không đồng nghĩa mọi cổ phiếu đều hấp dẫn.

Một doanh nghiệp có P/E 8 lần có thể được xem là có mức định giá thấp nếu lợi nhuận năm sau tăng 25%. Ngược lại, P/E 8 lần vẫn có thể trở thành “bẫy giá trị” nếu lợi nhuận năm sau giảm 30%.

Theo bộ tiêu chí định lượng của Mirae Asset, các doanh nghiệp được sàng lọc tích cực cần có doanh thu quý gần nhất tăng trên 10%, lợi nhuận quý gần nhất tăng trên 20%, lợi nhuận 4 quý gần nhất tăng trên 10%, ROE (tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) 12 tháng trên 12%, ROE bình quân 3 năm trên 9%, biên lợi nhuận ròng cải thiện so với cùng kỳ và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu dưới 80%.

Những tiêu chí trên cho thấy tăng trưởng trên thị trường chứng khoán cuối cùng vẫn phải được kiểm chứng bằng kết quả kinh doanh. Tăng trưởng GDP tạo thêm cơ hội, nhưng doanh nghiệp phải chuyển cơ hội đó thành doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền và hiệu quả sử dụng vốn thì giá trị mới được phản ánh rõ hơn trên thị trường.

Như vậy, đồng hành với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số không chỉ nằm ở quy mô huy động vốn, mà còn ở khả năng đưa nguồn lực đến doanh nghiệp và gắn với hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Những định hướng hoàn thiện chính sách, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng cơ sở nhà đầu tư sẽ góp phần nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán trong quá trình này./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục