Từ thiết bị công nghệ trong lớp học đến nền tảng dạy học trực tuyến, trí tuệ nhân tạo và học liệu số, chuyển đổi số đang góp phần đổi mới phương pháp dạy và học tại Trường Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành (thành phố Bắc Ninh). Với học sinh dân tộc thiểu số, công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, góp phần hình thành kỹ năng tự học, hợp tác và tự tin hòa nhập.
Đưa công nghệ vào từng giờ học
Đối với học sinh đến từ những địa bàn còn khó khăn, điều kiện tiếp cận thiết bị và học liệu số chưa đồng đều. Vì vậy, đưa công nghệ vào trường nội trú không đơn thuần là bổ sung phương tiện giảng dạy mà còn tạo môi trường để các em được thực hành, trải nghiệm và chủ động tìm hiểu kiến thức.
Năm học 2025 - 2026, Trường Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành duy trì 14 lớp với 444 học sinh. Toàn bộ phòng học, phòng làm việc được kết nối internet. Nhà trường triển khai các nền tảng số trong quản lý, giao nhiệm vụ, tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá và hỗ trợ học sinh ngoài giờ lên lớp.
Theo báo cáo tổng kết năm học, 100% cán bộ quản lý, giáo viên sử dụng phần mềm quản lý giáo dục, cơ sở dữ liệu ngành, học bạ số, sổ điểm điện tử và nền tảng dạy học trực tuyến.
Nhà trường thực hiện 1.420 tiết học trực tuyến, chiếm 10,02% trong tổng số 14.175 tiết dạy. Toàn bộ học sinh được quản lý trên cơ sở dữ liệu ngành, có học bạ số, sổ điểm điện tử và hồ sơ học tập điện tử.
Thầy Phạm Hồng Dương, Hiệu trưởng Trường Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành cho biết, các lớp học được trang bị tivi, máy tính và internet.
Giáo viên kết hợp bài giảng trực tiếp với hoạt động trên nền tảng số, sử dụng hình ảnh, video và công cụ tương tác phù hợp với nội dung từng môn học.
Việc ứng dụng công nghệ được triển khai theo hướng hỗ trợ đổi mới phương pháp. Điều quan trọng là giúp học sinh thay đổi cách học: biết đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin, tự nghiên cứu và vận dụng kiến thức. Khi được hướng dẫn sử dụng công nghệ đúng mục đích, các em có thể chủ động hơn trong học tập, đồng thời tích lũy kỹ năng cần thiết cho tương lai.
Trong các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục kinh tế và pháp luật, nhà trường lồng ghép hoạt động tại thư viện, hướng dẫn học sinh tìm kiếm tài liệu, khai thác học liệu số và lựa chọn nguồn thông tin phục vụ bài học.
Những hoạt động này giúp các em mở rộng kiến thức ngoài sách giáo khoa, rèn luyện khả năng tổng hợp, phân tích và trình bày vấn đề.
Cô Đỗ Thị Tâm (giáo viên Trường Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành) chia sẻ, công nghệ và trí tuệ nhân tạo được ứng dụng gắn với yêu cầu thực tế của từng môn học.
Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, thực hiện nhiệm vụ theo nhóm và tạo sản phẩm học tập. Qua đó, các em không chỉ tiếp nhận nội dung do thầy cô truyền đạt mà còn tham gia tìm hiểu, lựa chọn tư liệu và thể hiện cách hiểu của mình.
Học sinh tự tin làm chủ công nghệ
Em Trần Thị Hồng Loan (dân tộc Cao Lan, quê ở xã Đào Gia, học sinh lớp 11B Trường Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nguyễn Tất Thành) nhớ lại cảm giác bỡ ngỡ khi chuyển từ trường làng đến học tại trường nội trú. Hệ thống tivi màn hình lớn, máy chiếu và phòng máy tính khiến em ấn tượng.
“Các phòng học được trang bị tivi màn hình lớn, máy chiếu và hệ thống máy tính trong phòng tin học. Đây cũng là lần đầu tiên em được trực tiếp tiếp xúc và học tập với các nền tảng số,” em Trần Thị Hồng Loan tâm sự.
Trong một giờ tiếng Anh, giáo viên hiển thị mã phản hồi nhanh trên màn hình tivi. Học sinh dùng điện thoại quét mã, truy cập câu hỏi và trả lời trong khoảng 20 - 30 giây.
Hệ thống tự động chấm điểm, xếp hạng; giáo viên dựa vào kết quả để phân tích lỗi thường gặp và hướng dẫn các em khắc phục. Cách học này tạo không khí sôi nổi bởi học sinh được tham gia trực tiếp và nhận phản hồi ngay. Với những em ít có điều kiện tiếp xúc thiết bị, thao tác quét mã, trả lời câu hỏi cũng là bước làm quen thiết thực với môi trường học tập số.
“Ban đầu em nghĩ sẽ khó, nhưng khi làm rồi thì thấy đơn giản. Ngay cả những bạn không quá giỏi về công nghệ như chúng em vẫn có thể thao tác và tham gia,” em Trần Thị Hồng Loan cho biết.
Ở các môn Lịch sử, Địa lí và Ngữ văn, học sinh làm việc nhóm, tìm kiếm thông tin, hình ảnh, video rồi thiết kế bài trình chiếu bằng Canva hoặc PowerPoint. Mỗi thành viên đảm nhiệm một phần công việc, từ lựa chọn tư liệu, biên tập nội dung đến thiết kế và thuyết trình. Nhờ vậy, bài học trở thành quá trình cùng tìm hiểu và giải quyết nhiệm vụ, thay vì chỉ ghi chép kiến thức.
Sau hơn một năm học tập, Em Trần Thị Hồng Loan đã có thể tự tổng hợp thông tin, tìm kiếm tư liệu và thiết kế bài trình chiếu cho nhóm. Em nhận thấy công nghệ giúp kiến thức dễ hình dung hơn; đồng thời tạo cơ hội để học sinh rèn luyện khả năng diễn đạt trước tập thể. "Phương pháp học tập kết hợp công nghệ giúp học sinh vùng cao chủ động hơn, ghi nhớ hệ thống kiến thức dễ dàng hơn và trở nên tự tin hơn," em Trần Thị Hồng Loan chia sẻ.
Không chỉ trong giờ học, nhà trường còn tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, Tin học trẻ và đội Robocon. Những sân chơi này tạo điều kiện để học sinh vận dụng kiến thức, thử nghiệm ý tưởng và làm quen với tư duy giải quyết vấn đề. Đối với học sinh dân tộc thiểu số, trải nghiệm thực hành góp phần khơi gợi hứng thú với khoa học, công nghệ và định hướng học tập lâu dài.
Theo báo cáo năm học 2025-2026, trường có 423 học sinh dân tộc thiểu số trong tổng số 444 học sinh; tỷ lệ duy trì sĩ số cuối năm đạt 99,55%. Cùng với đổi mới dạy học, nhà trường thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với học sinh thuộc diện được hưởng, tạo điều kiện để các em yên tâm học tập, rèn luyện.
Thời gian tới, nhà trường tiếp tục gắn chuyển đổi số với nâng cao chất lượng quản trị và chuyên môn; khai thác cơ sở dữ liệu ngành, học bạ số, sổ điểm điện tử, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo. Dữ liệu học tập được kỳ vọng hỗ trợ giáo viên theo dõi tiến bộ, phát hiện khó khăn và lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp đối với từng học sinh.
Từ chỗ lần đầu làm quen với nền tảng số đến tự tìm tài liệu, thiết kế bài thuyết trình và tham gia hoạt động tương tác, nhiều học sinh đang chuyển từ người tiếp nhận sang người sử dụng công nghệ phục vụ học tập.
Đó là giá trị thiết thực của chuyển đổi số trong giáo dục dân tộc: mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, tăng năng lực tự học và giúp các em tự tin chuẩn bị hành trang cho tương lai./.
Đắk Lắk: Thêm cơ hội học tập thuận lợi cho học sinh vùng khó