Với mô hình này, ngân hàng Việt Nam sẽ dễ dàng hơn cung cấp vốn cho nhữngdoanh nghiệp đang gặp khó khăn mà không bị nguy cơ nợ xấu.
Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Geneva, ông Phạm Nam Kinh cho biết, không ai phủnhận doanh nghiệp Việt Nam đang trong tình trạng khó khăn chưa từng thấy, sảnxuất suy giảm, nhu cầu từ doanh nghiệp và từ người tiêu thụ khựng lại, hàng tồnkho tăng cao. Trong tình trạng này vấn đề tiếp cận vốn là vấn đề cốt lõi. Doanhnghiệp cần vốn lưu động để tiếp tục hoạt động và đi qua giao đoạn khó khăn, cũngnhư cần vốn đầu tư để chuyển hướng kinh doanh, tìm những lĩnh vực khả quan hơn.
Nghị quyết 13 của chính phủ, nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh ngiệp đưa ra haihướng hỗ trợ, hướng thứ nhất là giảm chi phí cho doanh nghiệp bằng cách gia hạnvà cắt giảm thuế, hướng thứ hai là hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn bằngcách hạ mặt bằng lãi suất cho vay và tái cơ cấu khoản nợ hiện có.
Để thi hành nghị quyết 13, Ngân hàng Nhà nước đã đặt trở lại mức trần lãisuất cho vay, liên tục hạ lãi suất để hiện tại xuống mức 14% và chỉ đạo trongviệc tái cơ cấu và gia hạn nợ hiện có. Như vậy, trên lý thuyết những điều kiệnđể doanh nghiệp tiếp cận vốn đã khả quan hơn trước nhiều. Trên thực tế thì cácdoanh nghiệp vẫn gặp khó khăn như trước để vay ngân hàng, vì ngân hàng viện rarất nhiều lý lẽ để từ chối đơn xin vay tiền.
Ông Phạm Nam Kim cho rằng, không phải là họ không tuân thủ nghị quyết và ý nguyện của nhà nước, nhưngquả thực là họ đang bị ngay từ phía chính quyền, hai sức ép trái chiều, rất khódung hòa. Một mặt chính phủ chỉ đạo phải hỗ trợ những doanh nghiệp đang gặp khókhăn, doanh thu xuống, lợi nhuận cũng không còn, tất nhiên là những doanh nghiệprất rủi ro, mặt khác chính phủ muốn tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và việcđầu tiên là xử lý nợ xấu, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức hợp lý với những đe dọanếu ngân hàng quá yếu kém thì sẽ bị sát nhập bởi những ngân hàng lớn mạnh hơn,tất nhiên ngân hàng lớn cũng lo sợ là khi bị “bắt” sáp nhập một ngân hàng yếukém thì họ cũng bị “lây” nợ xấu và sẽ trở nên yếu kém hơn.
Theo ông Phạm Nam Kim, ngân hàng hiện đang trong tình trang “trên đe, duớibúa” bởi hai hướng đi trái chiều của chính phủ, rốt cuộc họ sẽ tuân thủ Nghịquyết 13 bằng cách cho vay với lãi suất ưu đãi cho những khách hàng kinh doanhtốt, không có rủi ro, khổ một nỗi là những doanh nghiệp này, trong giai đoạnhiện tại lại không cần tiền! Xét trên phương diện nguyên tắc quản lý ngân hàng,thì các ngân hàng Việt Nam làm việc theo đúng chuẩn mực. Căn bản một ngân hàngsống trên chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và tiền cho vay.
Người ta lý giải chênh lệch lãi suất là lợi nhuận dùng để chi trả phí quản lýngân hàng, chi trả nguồn vốn bị giam khi cho vay khách hàng và chi trả rủi rotín dụng của người vay, vì vậy đối với khách hàng có nhiều rủi ro hơn, lãi suấtcho vay sẽ cao hơn. Một khi Chính phủ định lãi suất trần thì tất nhiên sự lựachọn sẽ hướng về phía khách hàng ít rủi ro và gạt bỏ khách hàng có rủi ro cao vìchênh lệch lãi suất không đủ để bù lắp rủi ro tín dụng.
Kết cục tài chính Việt Nam đang sống trong một giai đoạn rất tương phản, ngânhàng thì thừa vốn doanh nghiệp thì thiếu vốn vì cung và cầu không gặp nhau vàmọi người đều ý thức là nếu doanh nghiệp chết thì ngân hàng cũng khó sống sót.
Khi chính phủ quyết định chỉnh đốn lại hệ thống ngân hàng, xử lý nợ xấu, thìđây là một chính sách rất đúng, một nền kinh tế chỉ có thể mạnh khi dựa vào mộtnền tài chính mạnh. Khi chính phủ quyết định hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cặn nguồnvốn thì đó cũng là một điều rất đúng. Khó khăn của doanh nghiệp ảnh hưởng trựctiếp đến phát triển kinh tế, đến tạo công ăn việc làm cho người dân vì vậy phảigiúp họ thoát khỏi khó khăn là hợp lý. Vậy tại sao lại có sự thiếu hiệu quả hiệntại, phải chăng có vấn đề điều hòa trong thới gian của 2 quyết định trên? Thiếtnghĩ Việt Nam đã trải qua 2 năm trong sự bất ổn của nền kinh tế vĩ mô và ta phảiquyết liệt giải quyết sự yếu kém của hệ thống ngân hàng. Từ đầu năm, doanhnghiệp giải thể hàng loạt, ta cũng không thể trì trệ trong giai đoạn khó khănnày. Cái khó ở đây là phải thi hành đồng loạt hai quyết định trái chiều và trênmột sân chơi hoàn toàn theo quy luật luật thị trường và nếu những quyết định củachính phủ không dựa trên những luật chơi của thị trường tự do thì cũng sẽ khônghiệu quả.
Tình huống hiện tại của Việt Nam không phải là hiếm, rất nhiều quốc gia muốnmột mặt bảo vệ một hệ thống ngân hàng vững mạnh, mặt khác muốn hỗ trợ doanhnghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn, nhưng họ tránh không gây sức ép trên ngânhàng thi hành hai mục tiêu trái ngược. Khi muốn ngân hàng cho vay những doanhnghiệp hay khu vực kinh tế với rủi ro cao, họ chỉ định một cơ quan khác gánhchịu rủi ro phát sinh. Cụ thể những khoản vay trên sẽ được chính phủ, thông quanhững cơ quan chức năng bảo lãnh. Làm như vậy, doanh nghiệp sẽ dễ dành vay vốn,ngân hàng không bị suy yếu vì phải gánh chịu rủi ro, chính phủ thực hiện đượcchính sách của mình mà chỉ đụng đến ngân sách nhà nước khi rủi ro thực sự xẩyra.
Mô hình giúp đỡ doanh nghiệp trên thường được áp dụng trong một thời gianngắn để giúp đỡ doanh nghiệp trong những thời buổi khó khăn, để khôi phục kinhtế của một vùng hay một khu vực và đã chứng tỏ hiệu quả của nó./.