Theo Bộ Tài chính, đến ngày 23/10, cả nước có hơn 2,5 triệu người nộp thuế thuộc diện ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (03) hoặc không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (06), với tổng số nợ gần 27.805 tỷ đồng.
Bộ Tài chính đang đề xuất các cơ chế xử lý đặc thù, tạo điều kiện để những doanh nghiệp đủ điều kiện hoàn tất thủ tục giải thể.
Trong 2.518.440 người nộp thuế thuộc hai nhóm trạng thái 03 và 06, có 529.041 trường hợp đã ngừng hoạt động từ năm 2015 trở về trước. Tổng số nợ gồm 18.090 tỷ đồng tiền thuế gốc và 9.715 tỷ đồng tiền chậm nộp.
Nhiều doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh nhiều năm nhưng chưa thể giải thể do còn nghĩa vụ thuế, tiền phạt hoặc hồ sơ khai thuế chưa hoàn thiện.
Thực tế, có những doanh nghiệp được thành lập nhưng chưa từng hoạt động kinh doanh. Anh H. (Hà Nội) thành lập một công ty xây dựng năm 2015, song từ đó đến nay doanh nghiệp không phát sinh hoạt động. Tuy nhiên, để hoàn tất thủ tục giải thể, anh phải đối mặt với các khoản thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt gần 80 triệu đồng.
Đây là gánh nặng lớn khi công ty không có doanh thu. Anh H. kỳ vọng, nếu nghị quyết được ban hành, những trường hợp như doanh nghiệp của anh sẽ được tháo gỡ khó khăn, giảm nghĩa vụ tài chính và có thể hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế, giải thể doanh nghiệp.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, tình trạng người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký tiềm ẩn rủi ro lớn trong quản lý thuế. “Đây là tiềm ẩn rủi ro rất lớn,” Bộ trưởng nhấn mạnh.
Trong 10 tháng năm 2026, cơ quan thuế đã giải quyết chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với 777.835 trường hợp, gồm 143.786 doanh nghiệp, tổ chức và 634.049 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Tuy nhiên, số trường hợp tồn đọng từ nhiều năm trước vẫn còn lớn, trong đó có những nội dung vượt thẩm quyền xử lý của cơ quan thuế. Bộ Tài chính đang báo cáo Chính phủ, đề xuất Quốc hội ban hành nghị quyết riêng để xử lý các trường hợp này.
Theo dự thảo Nghị quyết của Chính phủ ban hành chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện pháp luật về quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu, lệ phí môn bài phát sinh đến hết ngày 31/12/2025 và tiền chậm nộp tương ứng có thể được xóa đối với những trường hợp đáp ứng điều kiện.
Dự thảo cũng đề xuất xử lý tiền chậm nộp đối với người nộp thuế thuộc trạng thái 03 và 06 khi hoàn thành nghĩa vụ thuế gốc và thực hiện thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định.
Bên cạnh đó, dự thảo nghị quyết của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đề xuất giảm mức phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế. Cụ thể, mức phạt phải nộp bằng 30% mức hiện hành nếu hoàn thành hồ sơ đến hết ngày 30/6/2027; bằng 50% trong giai đoạn từ ngày 1/7 đến hết ngày 31/12/2027 và bằng 70% từ ngày 1/1 đến hết ngày 30/6/2028.
Đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, dự thảo đề xuất không xử phạt một số vi phạm về thủ tục thuế; hộ kê khai được đề xuất áp dụng mức phạt bằng 50% mức thông thường nếu nộp đầy đủ hồ sơ còn thiếu.
Các cơ chế này không đồng nghĩa với xóa toàn bộ nghĩa vụ thuế. Tiền thuế gốc phát sinh từ hoạt động kinh doanh vẫn phải thực hiện theo quy định. Những trường hợp trốn thuế, gian lận thuế, sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp hoặc đang trong quá trình thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử không thuộc diện áp dụng chính sách đặc thù.
Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA), đánh giá cao sự chủ động của Bộ Tài chính trong việc nhận diện bất cập từ thực tiễn và đề xuất cơ chế tháo gỡ. Theo bà, môi trường kinh doanh thuận lợi không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia nhập mà còn phải bảo đảm doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường minh bạch, đúng pháp luật.
Qua thực tế tư vấn, Hội Tư vấn thuế Việt Nam ghi nhận nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm, không phát sinh doanh thu, thậm chí không còn nợ thuế gốc nhưng vẫn chưa thể chấm dứt hiệu lực mã số thuế do các khoản lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và xử phạt hành chính.
Hội Tư vấn thuế Việt Nam đã kiến nghị nghiên cứu chính sách phù hợp đối với những doanh nghiệp thực sự không hoạt động, không phát sinh doanh thu và không nợ thuế.
Bà Nguyễn Thị Cúc cho rằng, việc Bộ Tài chính đề xuất xử lý nợ lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và giảm mức phạt theo lộ trình cho thấy những phản ánh từ thực tiễn đã được quan tâm. Tuy nhiên, cần phân loại rõ doanh nghiệp thực sự ngừng hoạt động với trường hợp cố tình bỏ địa chỉ kinh doanh, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế. Tiền thuế gốc còn nợ vẫn phải được thu đúng, thu đủ theo quy định.
Theo bà Nguyễn Thị Cúc, việc xử lý cần dựa trên dữ liệu quản lý thuế, lịch sử kê khai, tình trạng sử dụng hóa đơn và nghĩa vụ tài chính. Cơ quan chức năng cũng cần xây dựng quy trình rõ ràng, tăng cường kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, đăng ký kinh doanh và các đơn vị liên quan để doanh nghiệp thuận lợi hoàn tất thủ tục.
Việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi vi phạm trước đó.
Cùng quan điểm cần có cơ chế riêng, ông Nguyễn Văn Thức, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn đại lý thuế BCTC cho rằng cần phân biệt doanh nghiệp thực tế không kinh doanh, không phát sinh doanh thu với trường hợp lợi dụng việc ngừng hoạt động để trốn tránh nghĩa vụ thuế.
Theo ông, chính sách cũng nên xem xét những doanh nghiệp đã thông báo tạm ngừng kinh doanh nhưng sau đó không tiếp tục gia hạn hoặc thông báo theo quy định, nếu xác định không hoạt động, không có doanh thu và không có dấu hiệu trốn thuế.
Với những trường hợp này, có thể áp dụng cách xử lý phù hợp đối với vi phạm thủ tục hành chính, tránh để tiền phạt tích lũy kéo dài trở thành rào cản giải thể.
Ông Nguyễn Văn Thức nhấn mạnh, việc xử lý mã số thuế tồn đọng cần đi kèm tiêu chí, điều kiện rõ ràng, không tạo kẽ hở để lợi dụng chính sách. Cơ quan thuế cũng cần hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, trình tự và nghĩa vụ phải hoàn thành để người nộp thuế có thể thực hiện thủ tục chấm dứt mã số thuế, giải thể doanh nghiệp./.