Ngay từ những giây mở đầu MV “Come my way,” hình ảnh nam ca sỹ Sơn Tùng M-TP đứng trên mô hình chim Lạc xuất hiện giữa Los Angeles đã gây ấn tượng thị giác mạnh mẽ. Có ý kiến cho rằng đây là chi tiết "đắt giá" khi biểu tượng văn hóa Việt hiện diện tại trung tâm đô thị Mỹ, song một bộ phận khán giả bày tỏ băn khoăn liệu cách làm này có thể hiện sự tôn trọng truyền thống.
Phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã có cuộc trò chuyện với chuyên gia công nghiệp văn hóa - Thạc sỹ Lê Quang Đức, Học giả Chevening 2024-2025 tại Đại học Sussex, Vương quốc Anh về việc ứng dụng các biểu tượng văn hóa trong sản phẩm nghệ thuật hiện đại.
Sáng tạo hay 'xâm lấn' biểu tượng văn hóa
- Ở góc độ là một chuyên gia về công nghiệp văn hoá và sáng tạo, ông đánh giá thế nào về hình ảnh ca sỹ Sơn Tùng M-TP đứng trên chim Lạc?
Thạc sỹ Lê Quang Đức: Tôi nghĩ đây là một tranh luận thú vị và, ở góc độ truyền thông, đã góp phần thúc đẩy hiệu ứng lan tỏa của MV.
Về cơ bản, các chuyên gia di sản có quyền diễn giải và bảo vệ các hình tượng văn hóa. Đó cũng là một phần vai trò quan trọng để văn hóa được gìn giữ trước những biến đổi của thời đại. Trong bối cảnh hiện nay, việc tái diễn giải văn hóa (cultural reinterpretation) hay sử dụng chất liệu dân gian, di sản để tạo ra sản phẩm pop hiện đại (heritage-based pop spectacle) là xu hướng phổ biến trên thế giới, không chỉ ở Việt Nam và cũng không riêng Sơn Tùng M-TP theo đuổi.
Tuy nhiên, khi biểu tượng văn hóa bước vào không gian giải trí đại chúng, nguy cơ thương mại hóa biểu tượng (symbolic commodification) hoặc chiếm dụng biểu tượng (symbolic appropriation) là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, sự quan sát, lắng nghe và nghiên cứu của đội ngũ sáng tạo vẫn rất cần thiết.
Ở góc nhìn cá nhân, tôi tin rằng chi tiết đứng trên mô hình chim Lạc chắc chắn có những dụng ý nhất định từ êkip sáng tạo. Tuy nhiên, nếu xét riêng về xử lý hình ảnh và thị giác, tôi sẽ không chọn cách dàn dựng đó. Với tôi, “đứng” không tạo được cảm giác kết nối giữa chủ thể và mô hình linh vật. Thực tế có nhiều cách xử lý điện ảnh vừa ấn tượng hơn, vừa tránh tạo cảm giác “xâm lấn biểu tượng” với nhóm công chúng coi chim Lạc như một vật tổ văn hóa của người Việt.
- “Come My Way” đang được công chúng và một số chuyên gia gọi tên là sản phẩm công nghiệp văn hoá góp phần đưa hình ảnh Việt Nam ra quốc tế. Theo ông, MV này đã “xứng tầm” với nhận định đó?
Thạc sỹ Lê Quang Đức: Trong nghiên cứu công nghiệp văn hóa, sản phẩm này có thể được xem là một MV thu hút chú ý bằng cách tái diễn giải văn hóa và sử dụng chất liệu dân gian, di sản trong không gian pop đại chúng. Nhưng để gọi đây là một “mô hình công nghiệp văn hóa” theo đúng nghĩa thì tôi nghĩ là chưa.
Nói một cách thẳng thắn, một MV thành công chưa đồng nghĩa với việc hình thành công nghiệp văn hóa bền vững. Sản phẩm có thể tạo ra hứng thú tìm hiểu về chim Lạc, trò Xuân Phả hay những chất liệu mỹ thuật Việt Nam ở một bộ phận công chúng. Đó là thành công đáng ghi nhận của việc tái diễn giải văn hóa và di sản. Nhưng để trở thành công nghiệp văn hóa theo nghĩa tạo ra sức mạnh mềm quốc gia, cần nhiều hơn một sản phẩm như vậy rất nhiều.
Công nghiệp văn hóa đòi hỏi chiến lược dài hạn, hệ sinh thái vận hành đồng bộ và khả năng tạo ra ảnh hưởng văn hóa bền vững vượt ra ngoài biên giới quốc gia. “Come My Way” hiện chưa làm được.
Sức mạnh mềm không đến từ khẩu hiệu
- Để một sản phẩm âm nhạc cá nhân trở thành mô hình của công nghiệp văn hoá cần những yếu tố nào, theo ông?
Thạc sỹ Lê Quang Đức: Điều quan trọng nhất là phải nhìn vào hệ sinh thái phía sau sản phẩm.
Nếu chỉ có một MV tiếng Anh gây bùng nổ truyền thông nhưng không có chiến lược tiếp nối như album, concert, tour diễn hay quảng bá quốc tế đủ mạnh, thì về cơ bản nó vẫn là một sản phẩm thành công chứ chưa phải mô hình công nghiệp văn hóa.
Ngoài ra, công nghiệp văn hóa là mô hình liên ngành. Khi sản phẩm tạo hiệu ứng, câu hỏi tiếp theo là nghệ sỹ kết nối với bảo tàng ra sao, với địa phương như thế nào, có kích thích du lịch văn hóa hay giáo dục di sản hay không. Những liên kết đó mới tạo nên giá trị lan tỏa bền vững.
Một điểm nữa cũng cần nhìn thẳng là sản phẩm đã thực sự đi ra quốc tế chưa, hay chủ yếu mới tạo hiệu ứng truyền thông trong nước. Đây là hai cấp độ rất khác nhau.
Tôi nghĩ “Come My Way” là một MV thành công và đáng chú ý của nhạc pop Việt Nam. Nhưng nếu nâng nó lên thành mô hình công nghiệp văn hóa tiêu biểu hay biểu tượng sức mạnh mềm quốc gia thì theo tôi có phần hơi hưng phấn quá và vẫn cần thêm thời gian quan sát.
- Một nghệ sỹ cần những tố chất gì để đủ sức mang trên vai “công nghiệp văn hoá” Việt Nam?
Thạc sỹ Lê Quang Đức: Tôi từng chia sẻ ở nhiều hội thảo cũng như với báo chí rằng một sản phẩm văn hóa thành công không đồng nghĩa với việc đã có công nghiệp văn hóa. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi mô hình vận hành, hệ sinh thái sáng tạo và năng lực sản xuất - phân phối - thương mại hóa - xuất khẩu được tổ chức theo logic công nghiệp.
Đó là một cấu trúc đa tầng, nơi nghệ sỹ, doanh nghiệp sáng tạo, nền tảng số, truyền thông, du lịch, giáo dục và chính sách văn hóa cùng liên kết với nhau. Trong yêu cầu hiện nay, công nghiệp văn hóa còn phải gắn với phát triển bền vững và kinh tế xanh. Đây là câu chuyện phức tạp hơn rất nhiều so với việc tạo ra một sản phẩm viral ngắn hạn trong nước.
Một sản phẩm có thể đạt thành tích truyền thông rất lớn nhưng điều đó chưa đủ để trở thành mô hình công nghiệp văn hóa. Điều quan trọng là khả năng duy trì, mở rộng và tạo ra hệ sinh thái vận hành lâu dài phía sau sản phẩm đó. Còn nếu nghệ sỹ và êkip chưa chuẩn bị những điều đó, không có kế hoạch cho những điều đó thì sản phẩm coi như đã xong nhiệm vụ rồi.
- Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đã đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí trọng tâm chiến lược, coi đây là động lực quan trọng để xây dựng sức mạnh mềm quốc gia và thúc đẩy phát triển bền vững. Ông có thể nói thêm về điều này?
Thạc sỹ Lê Quang Đức: Tôi cho rằng đây là một tín hiệu rất quan trọng vì lần đầu tiên công nghiệp văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm trong tư duy phát triển quốc gia, thay vì chỉ được nhìn như một lĩnh vực mang tính tinh thần hay hoạt động bổ trợ. Đây là sự chuyển dịch tư duy rất lớn. Nghĩa là văn hóa không còn chỉ để “giữ gìn,” mà còn phải có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, giá trị quốc tế và sức mạnh mềm cho quốc gia.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, rất nhiều quốc gia đã cho thấy sức mạnh mềm không đến từ khẩu hiệu, mà đến từ khả năng khiến thế giới chủ động tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Hàn Quốc là K-pop và điện ảnh, Nhật Bản có anime và game, Mỹ có Hollywood và hệ sinh thái bản quyền. Khi văn hóa trở thành ngành công nghiệp có khả năng xuất khẩu và tạo ảnh hưởng xuyên biên giới, văn hóa sẽ tác động trực tiếp tới hình ảnh quốc gia, du lịch, kinh tế và thậm chí cả vị thế địa chính trị.
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng công nghiệp văn hóa không thể phát triển chỉ bằng vài sản phẩm viral hay các chiến dịch ngắn hạn. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi hệ sinh thái dài hạn, nguồn nhân lực liên ngành, doanh nghiệp sáng tạo mạnh, chính sách hỗ trợ đồng bộ và đặc biệt là những mô hình vận hành chuyên nghiệp.
Tôi nghĩ Việt Nam đang có một cơ hội rất lớn vì chúng ta có dân số trẻ, tốc độ số hóa cao và nguồn chất liệu văn hóa rất phong phú, nghệ sỹ tài năng. Nhưng muốn biến tiềm năng đó thành sức mạnh mềm thực sự thì phải chuyển từ tư duy “sản phẩm đơn lẻ” sang tư duy “xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa” theo chuẩn quốc tế.
- Gần đây chúng ta cũng nói về “sức mạnh mềm” trong công nghiệp văn hoá, vậy cụ thể sức mạnh mềm được thể hiện như thế nào?
Thạc sỹ Lê Quang Đức: Theo UNESCO, công nghiệp văn hóa bao gồm các ngành sản xuất và phân phối sản phẩm mang nội dung văn hóa.
Mô hình này có ba lợi thế lớn. Thứ nhất là khả năng mở rộng rất cao thông qua các nền tảng số. Thứ hai là khả năng thích ứng linh hoạt với thị hiếu công chúng và xu hướng toàn cầu. Thứ ba là tiềm năng xuất khẩu, giúp văn hóa trở thành một nguồn lực kinh tế và ngoại giao. Khi một quốc gia có thể khiến thế giới chủ động nghe nhạc, xem phim, sử dụng sản phẩm văn hóa hoặc quan tâm tới biểu tượng văn hóa của mình, đó chính là biểu hiện của sức mạnh mềm.
- Xin cảm ơn những chia sẻ của ông./.