Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Cắt giảm thủ tục, thúc đẩy chuyển đổi xanh

Một trọng tâm đáng chú ý của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, là hoàn thiện cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số trong quản lý môi trường, thúc đẩy chuyển đổi xanh.
Thúc đẩy chuyển đổi xanh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường hướng tới cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản lý rủi ro.

Cùng với đó, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon được xác định là những trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Cắt giảm thủ tục, tăng phân cấp gắn với kiểm soát rủi ro

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, ngày 24/10, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường sẽ được đưa xem xét, cho ý kiến. Việc sửa đổi luật được đặt ra sau hơn 5 năm thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trong bối cảnh yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế ngày càng cao.

Theo Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đạt nhiều kết quả quan trọng, song một số mục tiêu chính sách chưa đạt được; một số quy định còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn, nhất là trong cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, thúc đẩy tái chế, tái sử dụng chất thải và bảo vệ các thành phần môi trường.

Đặc biệt, Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành luật, dự thảo được xây dựng theo hướng kế thừa những quy định còn phù hợp, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Một định hướng xuyên suốt là chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang quản trị môi trường hiện đại, dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro.

Đối với đánh giá tác động môi trường (ĐTM), dự thảo đề xuất giảm số nhóm tiêu chí môi trường từ 3 xuống 2, đơn giản hóa việc phân loại dự án từ 4 xuống 3 nhóm, cắt giảm đối tượng phải thực hiện ĐTM, đồng thời bổ sung các trường hợp được miễn hoặc chuyển sang đăng ký môi trường. Nội dung báo cáo và trình tự thẩm định cũng được đơn giản hóa, hướng tới tập trung đánh giá những vấn đề cốt lõi, nhất là việc lựa chọn địa điểm và tính khả thi, hiệu quả của dự án.

Với giấy phép môi trường, dự thảo tiếp tục cắt giảm đối tượng phải có giấy phép theo hướng chấp nhận rủi ro có kiểm soát, chuyển từ “tiền kiểm” sang tăng cường “hậu kiểm”; đơn giản hóa nội dung, hồ sơ cấp phép, kéo dài thời hạn giấy phép môi trường đối với một số đối tượng và phân quyền cấp phép cho địa phương.

Quản lý rác thải. (Ảnh: HV/Vietnam+)

Về thủ tục hành chính, theo Cục Môi trường, dự thảo luật kế thừa các nội dung cải cách đã được triển khai theo các nghị quyết của Chính phủ, trong đó có việc bãi bỏ 9 thủ tục hành chính, đơn giản hóa hồ sơ, giảm 52,5% thời gian và 52,3% chi phí tuân thủ. Riêng các quy định về ĐTM và giấy phép môi trường, dự thảo tiếp tục cắt giảm 5 thủ tục hành chính, sửa đổi, bổ sung 3 thủ tục; 2 thủ tục thuộc thẩm quyền Chính phủ quy định chi tiết sẽ tiếp tục được cắt giảm tại nghị định.

Dự thảo đồng thời cũng đề xuất bãi bỏ quy định về cấp lại giấy phép môi trường, chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và một số thủ tục liên quan đến vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải.

Song song với cải cách thủ tục, việc phân định thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM được định hướng theo mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường và tính chất đặc thù của dự án, trong đó có yếu tố bí mật nhà nước.

Quản trị môi trường bằng dữ liệu, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn

Một trọng tâm đáng chú ý của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, là hoàn thiện cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số trong quản lý môi trường, từ theo dõi nguồn thải, quản lý chất thải đến thẩm định ĐTM và cấp giấy phép môi trường.

Theo đó, dự thảo bổ sung quy định xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu theo hướng thống nhất, đồng bộ, tích hợp, liên thông, kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Chủ dự án, cơ sở có trách nhiệm tạo lập, cập nhật, lưu trữ và bảo đảm chất lượng dữ liệu theo quy định.

Dữ liệu môi trường không chỉ phục vụ công tác thống kê, báo cáo mà còn là cơ sở để phân tích rủi ro, cảnh báo sớm, giám sát nguồn thải và tăng cường hậu kiểm. Các thủ tục thẩm định ĐTM, cấp và điều chỉnh giấy phép môi trường được định hướng thực hiện trên môi trường điện tử, gắn với cập nhật dữ liệu vào nền tảng số quốc gia về bảo vệ môi trường.

Hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp môi trường. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Trong lĩnh vực chất thải, dự thảo bổ sung yêu cầu cập nhật dữ liệu về phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải, bao gồm chứng từ, biên bản giao nhận điện tử. Cách tiếp cận này góp phần tăng khả năng truy xuất, minh bạch thông tin và kiểm soát toàn bộ quá trình quản lý chất thải.

Đáng chú ý, chất thải được tiếp cận theo hướng trở thành nguồn tài nguyên có thể khai thác thông qua tái chế, tái sử dụng và thu hồi vật liệu. Dự thảo hoàn thiện cơ chế phân nhóm chất thải, thúc đẩy sử dụng vật liệu sau xử lý, tái chế làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thay thế; bổ sung ưu đãi sử dụng vật liệu tái chế và khuyến khích tuần hoàn, tái sử dụng khí thải, qua đó tạo điều kiện phát triển kinh tế tuần hoàn.

Các quy định về trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu cũng được điều chỉnh. Dự thảo đề xuất không yêu cầu trách nhiệm xử lý đối với sản phẩm, bao bì thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường; đồng thời không quy định hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, giao Chính phủ quy định hình thức khác nhằm bảo đảm trách nhiệm thu gom, tái chế được thực hiện thực chất.

Cùng với đó, dự thảo bổ sung quy định về dịch vụ môi trường, tạo cơ sở thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp môi trường và khuyến khích sản xuất trong nước, hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp môi trường. Các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, công nghệ chiến lược, công nghệ xanh và đào tạo nguồn nhân lực cũng được hoàn thiện.

Đối với chất lượng môi trường, dự thảo bổ sung quy định về dự báo ô nhiễm không khí, kiểm kê khí thải, vùng phát thải thấp và trách nhiệm của địa phương trong điều tiết phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Với môi trường nước mặt, việc xem xét tiếp nhận dự án và cho phép xả nước thải được gắn với khả năng chịu tải của nguồn nước, theo hướng quản lý rủi ro có kiểm soát. Trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh đối với ô nhiễm môi trường trên địa bàn cũng được làm rõ.

Trong ứng phó với biến đổi khí hậu, dự thảo chuyển trọng tâm từ cách tiếp cận “giảm nhẹ” sang quản lý phát thải khí nhà kính toàn diện, bao quát kiểm kê, giảm phát thải và vận hành thị trường carbon. Chu kỳ kiểm kê khí nhà kính được đề xuất rút từ 2 năm xuống hằng năm, thực hiện trực tuyến và tăng cường phân cấp cho địa phương. Các quy định về phân bổ hạn ngạch phát thải, trách nhiệm thực hiện mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), quản lý tín chỉ carbon và hoạt động của sàn giao dịch các-bon cũng được hoàn thiện.

Đặc biệt, dự thảo bổ sung quy định về quản lý hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon; khuyến khích công nghệ thân thiện với khí hậu, chất thay thế có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu thấp và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Đây là những nội dung góp phần hoàn thiện công cụ chính sách phục vụ mục tiêu giảm phát thải và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Một điểm mới khác là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực môi trường. Theo đề xuất, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng mang lại lợi ích về bảo vệ môi trường có thể được thử nghiệm theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trong thời gian thử nghiệm, một số yêu cầu, điều kiện về bảo vệ môi trường có thể được miễn, giảm hoặc tạm thời chưa áp dụng theo quy định. Cơ chế này hướng tới tạo không gian thử nghiệm cho giải pháp mới, đồng thời đặt hoạt động đổi mới trong khuôn khổ kiểm soát phù hợp./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục