Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 đã xác định rõ: "Đổi mới mô hình phát triển đất nước trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới."
Theo các chuyên gia kinh tế và chính sách công, thể chế vừa là "đột phá của các đột phá" nhưng cũng là rào cản lớn nhất cần được tháo gỡ. Đây chính là chìa khóa quan trọng nhất để mở ra không gian phát triển mới.
"Hệ điều hành" của mô hình phát triển
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Tiên, Trưởng khoa Kinh tế (Học viện Hành chính và Quản trị công) cho rằng, lịch sử phát triển của các quốc gia cho thấy không có mô hình phát triển nào có thể duy trì hiệu quả trong mọi bối cảnh. Khi các điều kiện thực tiễn thay đổi, các động lực tăng trưởng truyền thống dần suy giảm, đổi mới mô hình phát triển trở thành yêu cầu tất yếu.
Thực tiễn Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc cho thấy, những bước chuyển mình mang tính đột phá luôn gắn liền với cải cách thể chế.
Mô hình phát triển của một quốc gia là tổng thể các lựa chọn chiến lược về mục tiêu phát triển, hệ giá trị, thể chế, phương thức tổ chức, quản trị, vận hành quốc gia và các động lực tăng trưởng nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để hiện thực hóa mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn. Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển không phải là điều chỉnh một vài chính sách riêng lẻ, mà là đổi mới toàn diện cách thức quốc gia được tổ chức, quản trị và vận hành.
Theo bà Nguyễn Thị Kim Tiên, điểm mới và có ý nghĩa lý luận sâu sắc của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV là Trung ương đã xác định rõ đổi mới mô hình phát triển phải bắt đầu từ đột phá về thể chế, đồng thời đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phát triển đất nước.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, lợi thế cạnh tranh quốc gia không được quyết định chủ yếu bởi tài nguyên, vốn hay lao động giá rẻ, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế và năng lực quản trị quốc gia.
Sau 40 năm Đổi mới, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng mà cần tạo dựng năng lực phát triển mới, với khả năng liên tục tạo ra các động lực tăng trưởng dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao. Muốn hiện thực hóa mục tiêu đó, trước hết phải tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để giải phóng, kết nối và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phát triển.
Tiến sỹ Lê Khánh Cường-Chủ nhiệm bộ môn Kinh tế đầu tư và phát triển, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, Việt Nam đã đi từ một nền kinh tế thiếu đói, khép kín sang một quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, những dư địa tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và vốn đầu tư mở rộng theo chiều rộng đã dần cạn.
Muốn tăng trưởng hai con số như mục tiêu chiến lược đã đề ra, động lực phải đến từ năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Tất cả những yếu tố này đều bị quyết định trước hết bởi "luật chơi": khung pháp lý, bộ máy vận hành, cơ chế ra quyết định và trách nhiệm giải trình.
Về mặt kinh tế học, thể chế không phải là một biến số "phụ trợ," mà là biến số nền, quyết định chi phí giao dịch, mức độ an toàn của quyền tài sản, khả năng dự đoán chính sách và động lực đầu tư dài hạn của cả khu vực nhà nước lẫn khu vực tư nhân.
Một quốc gia có thể có hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực tốt, nhưng nếu thể chế trì trệ, chồng chéo, thiếu minh bạch thì các nguồn lực ấy vẫn bị “giam” lại, không chuyển hóa được thành năng lực sản xuất thực tế.
Ngược lại, một đột phá thể chế đúng hướng có thể giải phóng nguồn lực đang bị “đóng băng” trong đất đai, vốn, dữ liệu và chất xám mà không cần chờ đầu tư mới.
Chính vì vậy, khi Nghị quyết xác định thể chế và quản trị quốc gia là "khâu đột phá", đứng trước cả khoa học-công nghệ, hạ tầng chiến lược hay nguồn nhân lực chất lượng cao trong nhóm các đột phá cần đạt tới năm 2030, đây là một lựa chọn theo đúng trình tự nhân quả. Thể chế tốt sẽ kéo theo và khuếch đại hiệu quả của tất cả các đột phá còn lại; nếu thể chế không được cải cách trước, mọi đầu tư khác đều có nguy cơ bị pha loãng hiệu quả.
Đồng tình quan điểm này, Thạc sỹ Nguyễn Mạnh Hải (giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhấn mạnh, đột phá thể chế lần này được đặt trong logic "tạo năng lực phát triển mới," chứ không chỉ là "gỡ vướng, tháo điểm nghẽn" như một số giai đoạn trước. Đây là sự khác biệt căn bản.
Nếu như trước đây, cải cách thể chế chủ yếu mang tính phòng thủ, sửa những gì đang cản trở, thì lần này thể chế được xác định là động lực chủ động dẫn dắt, kiến tạo không gian phát triển mới: không gian số, không gian biển, không gian ngầm, không gian vũ trụ tầm thấp, các mô hình kinh tế mới dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Nội hàm mô hình phát triển mới mà Nghị quyết xác định là tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, lấy con người làm trung tâm, chỉ có thể vận hành được trên một nền quản trị quốc gia hiện đại, dựa trên cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, nhân dân làm chủ," với mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Nói cách khác, thể chế chính là "hệ điều hành" của toàn bộ mô hình phát triển; các trụ cột kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, quốc phòng-an ninh, đối ngoại là các "ứng dụng" chạy trên nền hệ điều hành đó. Hệ điều hành không được nâng cấp thì dù ứng dụng có tối ưu đến đâu, cả hệ thống vẫn vận hành ở tốc độ cũ. Đặt đột phá thể chế "trước hết" chính là đặt đúng vào gốc rễ của vấn đề, thay vì chỉ xử lý các biểu hiện.
Đổi mới đồng bộ từ thiết kế đến thực thi
Theo các chuyên gia, điểm đáng chú ý của Hội nghị Trung ương 3 là Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu đột phá về thể chế, mà còn nhấn mạnh phải đổi mới đồng bộ phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia. Tư duy cải cách đã chuyển từ hoàn thiện thể chế sang nâng cao năng lực thực thi thể chế.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Tiên cho rằng, chất lượng thể chế không chỉ được quyết định bởi hệ thống chủ trương, chính sách và pháp luật, mà còn bởi các thiết chế tổ chức, cơ chế thực thi, năng lực quản trị, hiệu quả phối hợp và khả năng hiện thực hóa chủ trương, chính sách thành kết quả phát triển.
Một hệ thống pháp luật tiến bộ nhưng tổ chức thực hiện chậm, phối hợp thiếu hiệu quả và bộ máy vận hành chưa thông suốt thì thể chế khó có thể chuyển hóa thành năng lực phát triển quốc gia. Để thể chế thực sự trở thành động lực dẫn dắt mô hình phát triển mới, Việt Nam cần đồng thời tạo đột phá ở hai phương diện có quan hệ hữu cơ với nhau: tư duy thiết kế thể chế và năng lực thực thi thể chế.
Trước hết, cần đổi mới tư duy thiết kế thể chế theo hướng chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên quản trị rủi ro; từ kiểm soát đơn thuần sang tạo lập môi trường thuận lợi để giải phóng mọi nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.
Trên cơ sở đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng ổn định, minh bạch, thống nhất, dễ dự báo và có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh của khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các mô hình kinh doanh mới.
Tiến sỹ Lê Khánh Cường khẳng định, những đột phá này sẽ mang lại lợi ích cụ thể, đo đếm được cho ba nhóm chủ thể. Với người dân, một nền quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu và pháp luật minh bạch sẽ giảm thời gian, chi phí và cả sự phiền hà khi tiếp cận dịch vụ công-từ y tế, giáo dục, an sinh xã hội đến các thủ tục đất đai, hộ tịch. Quan trọng hơn, khi thể chế vận hành minh bạch, niềm tin xã hội-vốn là một loại "vốn xã hội" có giá trị kinh tế thực sự-sẽ được củng cố, tạo nền tảng cho sự đồng thuận và ổn định lâu dài.
Với doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, đột phá thể chế đồng nghĩa với việc giảm chi phí tuân thủ, giảm rủi ro pháp lý và tăng khả năng dự đoán chính sách-ba yếu tố quyết định đầu tư dài hạn. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát sẽ mở đường cho các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ mới-vốn trước đây thường bị "mắc kẹt" trong khoảng trống pháp lý-có cơ hội phát triển ngay tại Việt Nam thay vì phải "xuất khẩu" ý tưởng ra nước ngoài.
Với năng lực cạnh tranh quốc gia, các tổ chức xếp hạng quốc tế đều coi chất lượng thể chế là một trong những trụ cột quan trọng nhất khi đánh giá môi trường đầu tư. Một bộ máy tinh gọn, minh bạch, vận hành trên nền tảng dữ liệu số sẽ trực tiếp cải thiện các chỉ số về môi trường kinh doanh, qua đó gia tăng sức hấp dẫn với dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, đặc biệt trong bối cảnh các chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc và cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực ngày càng gay gắt.
Nói cách khác, đột phá thể chế không phải là câu chuyện của riêng bộ máy nhà nước, mà là điều kiện tiên quyết để mọi tiềm năng khác của đất nước - con người, tài nguyên, vị trí địa kinh tế-được chuyển hóa trọn vẹn thành năng lực phát triển thực sự.
Đây chính là lý do vì sao thể chế được Trung ương xác định là khâu đột phá hàng đầu trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045./.
Hoàn thiện thể chế, tháo gỡ “điểm nghẽn,” tạo động lực phát triển đất nước
Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất Quốc hội khóa XVI có ý nghĩa chiến lược đặc biệt, không chỉ khẳng định tinh thần đổi mới mà còn cho thấy một Quốc hội hành động, luôn đồng hành cùng hệ thống chính trị.