Chiều 2/8, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 với chủ đề “Nâng tầm công tác đối ngoại địa phương, huy động hiệu quả các nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển” đã diễn ra dưới sự chủ trì của đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Hơn 500 đại biểu từ các ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các địa phương, đại diện các cơ quan ngoại vụ địa phương và các Đại sứ, trưởng Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, trưởng Cơ quan đại diện được tiến cử và lãnh đạo các đơn vị của Bộ Ngoại giao đã tham dự Hội nghị.
Đối ngoại địa phương phải có sản phẩm, kết quả cụ thể
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động sâu sắc, đan xen cả thời cơ và thách thức.
Trong khi hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh thương mại và quá trình tái định hình các liên kết quốc tế diễn ra ngày càng quyết liệt.
Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc cục diện cạnh tranh toàn cầu.
Trích dẫn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Bộ trưởng lưu ý cạnh tranh hiện nay đã diễn ra “đến từng phòng thí nghiệm, cơ sở đào tạo,” qua đó đặt ra yêu cầu công tác đối ngoại phải tiếp tục đổi mới tư duy, chủ động thích ứng và đồng hành chặt chẽ với quá trình phát triển của đất nước.
Bộ trưởng khẳng định mục tiêu tăng trưởng 10% mà cả nước đang hướng tới là yêu cầu thực chất, trong đó công tác đối ngoại địa phương giữ vai trò quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển.
Theo Bộ trưởng, thực tiễn cho thấy chưa có quốc gia, địa phương, tổ chức hay doanh nghiệp nào phát triển thành công mà không thông qua hội nhập quốc tế dưới những hình thức phù hợp.
Đề cập những định hướng lớn về công tác đối ngoại, Bộ trưởng cho biết nếu Đại hội XIII của Đảng xác định đối ngoại giữ vai trò “tiên phong,” thì Đại hội XIV lần đầu tiên khẳng định đối ngoại là “nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên,” thể hiện bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vị trí, vai trò của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, không chỉ của riêng ngành ngoại giao.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế địa phương cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa, trở thành một nội dung công tác rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Về yêu cầu đánh giá hiệu quả công tác đối ngoại địa phương, Bộ trưởng nêu rõ bốn tiêu chí gồm: có sản phẩm cụ thể; tạo ra kết quả mang lại giá trị thực tiễn; bảo đảm tiến độ, thời hạn và nhận được sự tín nhiệm của nhân dân.
Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Lê Hoài Trung đề ra bốn định hướng trọng tâm đối với công tác đối ngoại địa phương trong thời gian tới.
Một là, đổi mới tư duy và nâng cao chất lượng hoạch định chiến lược đối ngoại địa phương, bảo đảm đối ngoại thực sự trở thành một hợp phần trong chiến lược phát triển của địa phương.
Công tác đối ngoại cần được đặt trong tổng thể chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của địa phương. Từng địa phương cần chủ động xây dựng, rà soát, cập nhật chiến lược đối ngoại và cụ thể hóa bằng chương trình hành động phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch và không gian phát triển mới; xác định rõ địa bàn, đối tác và lĩnh vực hợp tác trọng tâm; cụ thể hóa các định hướng đối ngoại thành chương trình, dự án có tính khả thi và hiệu quả thiết thực.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ ngoại giao phục vụ phát triển, lấy khả năng chuyển hóa quan hệ đối ngoại thành nguồn lực và kết quả cụ thể làm thước đo hiệu quả.
Các địa phương cần rà soát toàn diện những cam kết, thỏa thuận hiện có, xác định những nội dung còn dư địa triển khai, những vướng mắc cần tháo gỡ, những cam kết cần điều chỉnh và những cơ hội có thể cụ thể hóa thành chương trình, dự án.
Ngoại giao kinh tế và khoa học-công nghệ cần hướng mạnh vào những nguồn lực có khả năng nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của kinh tế địa phương.
Cùng với đó, cần phát huy tốt hơn sức mạnh mềm và huy động rộng rãi các nguồn lực xã hội phục vụ phát triển. Ngoại giao văn hóa, đối ngoại nhân dân, thông tin đối ngoại và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần được triển khai đồng bộ.
Ba là, đổi mới cơ chế lãnh đạo, quản lý và phối hợp, bảo đảm công tác đối ngoại địa phương được triển khai thống nhất, thông suốt và hướng tới kết quả thực chất.
Công tác đối ngoại trên địa bàn cần được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của cấp ủy, sự quản lý tập trung của chính quyền địa phương và sự tham mưu, điều phối của cơ quan chuyên môn về đối ngoại.
Sự phối hợp giữa địa phương với Bộ Ngoại giao, các bộ, ngành và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần được tổ chức trên cơ sở nhu cầu thực chất và trách nhiệm hai chiều. Đồng thời, cần từng bước hình thành cơ sở dữ liệu và kênh trao đổi thông tin dùng chung, tạo nền tảng cho việc chia sẻ cơ hội, phối hợp nguồn lực, nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành và đánh giá hiệu quả công tác đối ngoại.
Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại vụ đáp ứng yêu cầu mới, đồng thời đổi mới căn bản phương thức quản lý công tác đối ngoại. Trong đó, cần quan tâm kiện toàn các cơ quan chuyên trách, bảo đảm mỗi địa phương có một đầu mối đủ vị thế, thẩm quyền và năng lực để tham mưu tổng thể, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, điều phối hoạt động đối ngoại và theo dõi việc triển khai các cam kết hợp tác.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cần được xác định là trọng tâm của quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy. Cán bộ ngoại vụ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiến thức đối ngoại, trình độ ngoại ngữ và am hiểu thực tiễn địa phương; đồng thời từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu, xây dựng dự án và tổ chức triển khai hợp tác quốc tế.
Bộ trưởng cũng đề nghị các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường phối hợp, hỗ trợ hiệu quả hơn đối với các địa phương; đồng thời mong muốn các địa phương chủ động phản ánh cụ thể những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai công tác đối ngoại để Bộ Ngoại giao kịp thời phối hợp tháo gỡ, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp trong thời gian tới.
Nhiều kết quả thực chất trong công tác đối ngoại địa phương
Trình bày Báo cáo trung tâm tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn đánh giá công tác đối ngoại địa phương từ sau Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 21 đến nay đã chuyển biến bước đầu từ chú trọng mở rộng quan hệ sang quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả hợp tác, từ tổ chức hoạt động riêng lẻ sang gắn đối ngoại với quy hoạch và mục tiêu phát triển và từ tiếp nhận sự hỗ trợ sang chủ động đề xuất nhu cầu và tìm kiếm nguồn lực quốc tế.
Được triển khai trên cả ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đối ngoại địa phương góp phần cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội XIII và Đại hội XIV.
Các địa phương đã ký, gia hạn và duy trì hiệu lực 900 thỏa thuận quốc tế được ký; cấp phép, chủ trì hơn 2.500 hội nghị, hội thảo quốc tế. Công tác quản lý, bảo vệ biên giới được triển khai đồng bộ, quán triệt định hướng về củng cố vững chắc “vành đai an ninh-phát triển.”
Đối ngoại giữ vai trò chủ đạo trong mở rộng không gian hợp tác, huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển nhanh và bền vững của các tỉnh, thành.
Nhiều địa phương đã chuyển dần từ thu hút theo số lượng sang lựa chọn dự án có chất lượng. Hàng hóa của địa phương tiếp tục mở rộng tiếp cận thị trường và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Công tác vận động, thu hút viện trợ phi chính phủ nước ngoài được chú trọng với trên 1.500 chương trình, dự án, tổng giá trị cam kết hàng trăm triệu USD.
Nhiều thỏa thuận, cơ chế hợp tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được các địa phương ký, góp phần tạo việc làm, nâng cao chất lượng nhân lực và thu hút nguồn lực hiệu quả.
Công tác vận động, bảo tồn và phát huy giá trị các danh hiệu quốc tế đạt kết quả tích cực. Việt Nam đã có 79 danh hiệu, mạng lưới và cơ chế UNESCO. Nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa, du lịch tại địa phương đã trở thành thương hiệu, thu hút đông đảo đối tác và du khách quốc tế.
Hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được nhiều địa phương quan tâm. Công tác lãnh sự, bảo hộ công dân, người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin đối ngoại và đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được triển khai tích cực.
Các địa phương đã chủ động kiện toàn cơ quan, đầu mối làm công tác đối ngoại, duy trì thông suốt các hoạt động đối ngoại tại địa phương.
Trong giai đoạn 2024-2026, Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục đồng hành với địa phương trong tham mưu, hướng dẫn, cung cấp thông tin, kết nối và huy động nguồn lực quốc tế và đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực hiện.
Hơn 270 cuộc làm việc giữa Bộ trưởng, lãnh đạo Bộ Ngoại giao với các địa phương, 9 hội nghị quy mô lớn kết nối địa phương với đối tác nước ngoài, 2.000 cuộc kết nối giữa với đối tác quốc tế được tổ chức; hỗ trợ ký hơn 420 thỏa thuận hợp tác với các đối tác quốc tế.
Bên cạnh đó là các công tác phối hợp về biên giới, lãnh thổ, lãnh sự và bảo hộ công dân, công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin đối ngoại… được đẩy mạnh; tổ chức hàng trăm lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đối ngoại và hội nhập quốc tế cho cán bộ địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thứ trưởng Ngô Lê Văn cũng chỉ ra những hạn chế, khó khăn trong công tác đối ngoại địa phương như nhận thức và sự gắn kết với chiến lược phát triển, tính chủ động và mức độ đồng đều, hiệu quả hợp tác và khả năng chuyển hóa nguồn lực, tổ chức bộ máy, biên chế, năng lực cán bộ.
Bên cạnh đó là các khó khăn về thể chế, khung pháp lý, thẩm quyền và tổ chức thực hiện, nguồn lực tài chính, thông tin, dữ liệu và chuyển đổi số, liên kết vùng và cơ chế phối hợp.
Thống nhất tư duy, đa dạng phương thức triển khai đối ngoại địa phương
Tại hai Phiên chuyên đề, dưới sự điều hành của các lãnh đạo Bộ Ngoại giao, các đại biểu từ Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, ban ngành và địa phương đã cùng nhận diện những cơ hội, chia sẻ cách làm hay, kinh nghiệm thực tiễn trong hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực bên ngoài và xây dựng bộ máy tổ chức, nhân lực làm công tác đối ngoại “trọng yếu, thường xuyên” tại địa phương trong tình hình mới.
Xuyên suốt 12 tham luận, một mạch tư duy chung được các địa phương cùng chia sẻ là chuyển từ mở rộng quan hệ theo số lượng sang tạo giá trị thực chất, lấy kết quả cụ thể làm thước đo hiệu quả đối ngoại.
Hiệu quả đối ngoại địa phương phụ thuộc quyết định vào năng lực xác định đúng nhu cầu, chuẩn bị đề xuất có chất lượng và tổ chức thực hiện đến cùng. Trên nền tư duy đó, mỗi địa phương có cách tiếp cận riêng, phù hợp với đặc thù và lợi thế của mình.
Về ngoại giao kinh tế, các đại biểu thống nhất cần gắn đối ngoại chặt hơn với các mục tiêu tăng trưởng cụ thể, đối ngoại địa phương đang chuyển mạnh từ mở rộng quan hệ sang tạo lập kết quả phát triển cụ thể.
Trong đó, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ khuyến nghị các địa phương chủ động đón đầu dòng vốn FDI chất lượng cao trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ.
Đại diện Thủ đô Hà Nội chỉ ra sự chuyển đổi tư duy đối ngoại từ “tiếp nhận, thích nghi” sang “chủ động đóng góp, kiến tạo và định hình” thông qua việc từng bước đưa Khu Công nghệ cao Hòa Lạc trở thành hạt nhân thu hút các ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo.
Lãnh đạo thành phố Hải Phòng chia sẻ kinh nghiệm trong triển khai “ngoại giao kiến tạo phát triển” với việc phân công đầu mối theo dõi, thúc đẩy thực hiện từng cam kết sau ký kết.
Trao đổi về xuất khẩu sản phẩm nông thủy sản, lãnh đạo tỉnh An Giang giới thiệu định hướng khai thác thị trường HALAL, coi năm APEC 2027 là cơ hội quan trọng để quảng bá và mở rộng kết nối.
Tỉnh cũng chỉ ra những rào cản như các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu, áp lực cạnh tranh về giá và chi phí logistics gia tăng do những biến động địa chính trị trên thế giới.
Về ngoại giao văn hóa và kinh tế di sản, lãnh đạo thành phố Huế và tỉnh Ninh Bình chia sẻ quan điểm “di sản đang được nhìn nhận không chỉ để bảo tồn mà còn để chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.”
Thành phố Huế đề xuất hình thành một diễn đàn quốc tế thường niên về ngoại giao văn hóa, kinh tế di sản và du lịch bền vững ngay tại địa phương, trong khi tỉnh Ninh Bình gắn việc xây dựng đội ngũ đối ngoại chuyên sâu với các giá trị đặc trưng như Quần thể danh thắng Tràng An và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
Về tổ chức bộ máy và năng lực thực thi của cơ quan đối ngoại địa phương, những điểm nghẽn tương đồng dù xuất phát từ những đặc thù khác nhau được thẳng thắn chỉ ra. Đó là biên chế mỏng và khó thu hút nhân lực chất lượng cao, bảo đảm đủ năng lực vừa tham mưu, vừa xử lý kịp thời các sự vụ biên giới.
Triển khai số hóa trong công tác đối ngoại tại địa phương gặp khó khăn do dữ liệu đầu vào và báo cáo đầu ra qua các giai đoạn trước vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu tổng hợp, phân tích phục vụ quản trị, điều hành.
Từ những điểm nghẽn đó, các địa phương đã đề xuất phân cấp mạnh hơn gắn với bộ chỉ số KPI đánh giá hiệu quả công việc, duy trì ổn định, thống nhất mô hình cơ quan đối ngoại địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp ứng dụng trí tuệ nhân tạo và sớm ban hành khung kiến trúc dữ liệu chung của ngành ngoại giao áp dụng cho các địa phương.
Ghi nhận, tôn vinh những đóng góp cho công tác đối ngoại địa phương
Sau Phiên bế mạc, lãnh đạo Bộ Ngoại giao đã trao Bằng khen của Bộ trưởng Ngoại giao và Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Ngoại giao Việt Nam cho các tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp cho công tác đối ngoại địa phương thời gian qua.
Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 khép lại, để lại nhiều định hướng và nhiệm vụ cụ thể, tạo tiền đề để công tác đối ngoại địa phương giai đoạn 2026-2028 thực sự trở thành một hợp phần hiệu quả trong chiến lược phát triển của mỗi địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại./.
Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33: Nâng cao hiệu quả đối ngoại Việt Nam
Hội nghị Ngoại giao 33 đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đối ngoại Việt Nam trong bối cảnh quốc tế phức tạp, hướng tới mục tiêu phát triển đến 2030 và 2045.