Cần có cơ chế, chính sách như thế nào để thu hút, trọng dụng nhân tài trong giáo dục đại học là chủ đề được các đại biểu tập trung thảo luận tại tọa đàm tham vấn chính sách vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hôm nay, 6/11, tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tọa đàm được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, nhằm tham vấn ý kiến phục vụ xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ về cơ chế phối hợp và chính sách tài trợ cạnh tranh để thu hút, trọng dụng nhân tài trong giáo dục đại học.
Thu hút nhân tài gắn với phát triển nhóm nghiên cứu mạnh
Tại tọa đàm, bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học cho biết công tác thu hút nhân tài trong giáo dục đại học đang được quan tâm thông qua việc cải thiện, điều chỉnh chính sách, giúp các cơ sở giáo dục đại học phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nghiên cứu.
Theo bà Thuỷ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng mô hình thu hút nhân tài gắn với các nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển năng lực khoa học bền vững, hàng đầu tại Việt Nam, thực hiện những nhiệm vụ cụ thể để giải quyết bài toán của doanh nghiệp và địa phương.
Mô hình được trình bày gồm bốn thành tố. Trước hết là nguồn nhân lực xuất sắc, có khả năng dẫn dắt nghiên cứu và đào tạo đội ngũ kế cận. Nhóm nghiên cứu được quyền đề xuất, lựa chọn đối tác, tổ chức thực hiện và duy trì hoạt động; được tài trợ kinh phí nghiên cứu với sự điều phối, theo dõi kết quả của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan quản lý. Nhóm có thể nhận đặt hàng, tài trợ từ doanh nghiệp, địa phương để giải quyết các bài toán thực tiễn.
Quy trình xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh dự kiến gồm sáu bước: xác định nhu cầu thực tế từ doanh nghiệp, địa phương; lựa chọn nhân lực thực hiện; xây dựng hồ sơ nhiệm vụ, dự toán đối ứng và cam kết đầu ra; xét chọn cạnh tranh; triển khai nhiệm vụ; đánh giá và đề xuất giai đoạn tiếp theo.
Bốn nhóm công nghệ dự kiến được ưu tiên gồm: trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu; vi mạch bán dẫn; công nghệ sinh học và y sinh; năng lượng mới và vật liệu.
Mô hình hướng tới phát triển các nhóm nghiên cứu có công bố khoa học, sở hữu trí tuệ và khả năng nắm giữ công nghệ đồng thời đào tạo, thúc đẩy sự phát triển của nhà khoa học trẻ, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu của Việt Nam.
Một định hướng trọng tâm được đưa ra tham vấn là đánh giá đồng thời năng lực của nhà khoa học, chất lượng và tính khả thi của nhiệm vụ, cùng năng lực và cam kết của cơ sở tiếp nhận. Việc tài trợ cần bảo đảm cạnh tranh, công khai, minh bạch, đánh giá độc lập và gắn với kết quả đóng góp thực chất.
Đảm bảo thu nhập và cơ hội phát triển
Tại tọa đàm, các đại biểu đều cho rằng để thu hút nhân tài không chỉ cần đảm bảo thu nhập mà còn cần trọng dụng và phát huy năng lực của nhà khoa học, trong đó chú trọng môi trường làm việc, quyền chủ động trong nghiên cứu, đơn giản hóa thủ tục hành chính và bảo đảm nguồn tài trợ dài hạn.
Các ý kiến cũng đề cập cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, trường đại học, địa phương và doanh nghiệp, gắn nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn và trách nhiệm của các bên.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân, cùng với bảo đảm thu nhập, cần tạo cơ hội để nhà khoa học phát huy vai trò, năng lực khi về làm việc. Nhà khoa học cần được giao những nhiệm vụ khó, có sức hấp dẫn, khơi gợi đam mê nghiên cứu thay vì chỉ được mời về để có vị trí, chức danh và thu nhập cao nhưng thực hiện những công việc thông thường.
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho rằng cần tuỳ đối tượng để có các chính sách phù hợp. Đối với nhà khoa học trẻ, cần có sự quan tâm, lộ trình đào tạo trong và ngoài nước, giao công việc để tích lũy kinh nghiệm và từng bước trưởng thành, chủ động tìm kiếm nguồn lực nghiên cứu. Với các trưởng nhóm nghiên cứu mạnh, người chủ trì đề tài nghiên cứu trọng điểm, cần có chính sách riêng và đầu tư dài hạn, ít nhất 5 năm. Theo Thứ trưởng, việc tìm kiếm nguồn tài trợ qua các đề tài chỉ kéo dài 1-2 năm có thể khiến nhà khoa học phải chuyển sang những đề tài, lĩnh vực khác để duy trì nguồn lực.
Cùng quan điểm này, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng để phát huy năng lực của nhà khoa học, cần những chính sách đột phá, có tính khả thi cao, bao gồm chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu, cơ chế tự chủ và đánh giá chính xác.
Chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn cơ sở, bà Trần Thị Tố Uyên, Phó Ban Tổ chức - Cán bộ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị cần tập trung giải quyết ba điểm nghẽn. Trước hết là đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục hành chính, tạo cơ chế linh hoạt và trao quyền tự chủ cho nhà khoa học trong nghiên cứu.
Tiếp đó, cần xây dựng cơ chế tài trợ cạnh tranh dựa trên chất lượng, tính khả thi của đề tài, có hỗ trợ tài chính trong giai đoạn đầu từ 3-5 năm. Bên cạnh đó, cần xác định cơ chế phối hợp giữa Trung ương, địa phương, đại học và doanh nghiệp theo từng nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ trách nhiệm của các bên.
Các nội dung tham vấn cũng đặt ra yêu cầu phân biệt rõ những vấn đề đã có quy định nhưng chưa được áp dụng đầy đủ; những vấn đề cần tăng cường phối hợp; những nội dung thực sự cần bổ sung trong Nghị định hoặc hoàn thiện pháp luật chuyên ngành.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết trên cơ sở ý kiến của các cơ quan, tổ chức, nhà khoa học và chuyên gia, Bộ sẽ tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Nghị định. Mục tiêu là nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nhóm nghiên cứu mạnh, xây dựng đội ngũ kế cận, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; lấy kết quả và năng lực được hình thành tại Việt Nam làm thước đo hiệu quả thu hút, trọng dụng nhân tài./.
Chiến lược thu hút nhân tài - “chuyên biệt trong tổng thể lớn”
Giải pháp và cơ chế đột phá là đổi mới tuyển dụng, đánh giá hiệu quả bằng kết quả thực tiễn thay vì bằng cấp hình thức, trao quyền gắn bảo vệ người dám nghĩ dám làm, hoàn thiện chính sách đãi ngộ.