Một quốc gia có thể rất hấp dẫn để ghé thăm nhưng chưa chắc đã giỏi trong việc giữ lại giá trị từ mỗi chuyến đi. Việt Nam đang ở khá gần nghịch lý ấy: tài nguyên văn hóa đứng thứ 21, tài nguyên tự nhiên thứ 22, sức cạnh tranh về giá thứ 7 trong bảng xếp hạng toàn cầu, nhưng tác động kinh tế-xã hội của du lịch lại đứng thứ 106/110.
Khoảng cách ấy đáng chú ý hơn con số Việt Nam đứng thứ 52 hay tăng 7 bậc trong Chỉ số Phát triển Du lịch và Lữ hành (TTDI) 2026 vừa được Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam thông tin. Bởi một điểm đến có biển đẹp, di sản giàu có, giá cả hấp dẫn và ngày càng dễ tiếp cận, nhưng những lợi thế đó chỉ thực sự trở thành sức mạnh của ngành du lịch khi chúng được chuyển hóa thành dịch vụ tốt hơn, thời gian lưu trú dài hơn, mức chi tiêu cao hơn và sinh kế rộng hơn cho cộng đồng.
TTDI (do World Economic Forum công bố) vì thế đáng được “đọc” như một bức tranh về phần nền của du lịch Việt Nam. Kết quả năm 2026 ghi nhận nhiều lợi thế đang được củng cố, đồng thời chỉ ra những mắt xích còn yếu - từ hạ tầng, môi trường đến mức độ ưu tiên cho du lịch.
Với một ngành đang được đặt mục tiêu trở thành kinh tế mũi nhọn, câu chuyện đáng quan tâm không còn là Việt Nam có gì để hút khách, mà là những gì đang có được biến thành bao nhiêu giá trị.
Những lợi thế đang được xếp hạng cao
TTDI 2026 của World Economic Forum đánh giá 110 nền kinh tế thông qua 17 trụ cột và 102 chỉ số thành phần, tập trung vào những điều kiện và chính sách tạo nền tảng cho du lịch phát triển bền vững, có khả năng chống chịu và đóng góp cho nền kinh tế, xã hội. Chỉ số này không đo trực tiếp lượng khách, mức chi tiêu hay doanh thu du lịch.
Năm 2026, Việt Nam đạt 4,15 điểm, xếp thứ 52/110 nền kinh tế, tăng 7 bậc so với năm 2024 và tăng 6,1% về điểm số. Tại Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 5, sau Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Tuy nhiên, tốc độ tăng điểm của Việt Nam cao hơn cả bốn nền kinh tế này.
Đáng chú ý, số trụ cột của Việt Nam nằm trong nhóm 35 nền kinh tế dẫn đầu đã tăng từ 4 lên 7. Sức cạnh tranh về giá đứng thứ 7, An toàn và an ninh thứ 9, Tài nguyên văn hóa thứ 21, Tài nguyên tự nhiên thứ 22, Mức độ bền vững của nhu cầu du lịch thứ 27, Tài nguyên phi giải trí thứ 30 và Hạ tầng vận tải hàng không thứ 34.
Một số bước tiến khá rõ nằm ở những trụ cột có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiếp cận và sức hút của điểm đến. An toàn và an ninh tăng 18 bậc, lên thứ 9; Sức cạnh tranh về giá tăng 8 bậc, lên thứ 7. Hạ tầng vận tải hàng không tăng 9 bậc lên thứ 34, trong khi Tài nguyên văn hóa tăng 6 bậc và Tài nguyên tự nhiên tăng 4 bậc. Mức độ bền vững của nhu cầu du lịch tăng tới 24 bậc, lên thứ 27.
Đây là những lợi thế không nhỏ khi Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Một điểm đến có tài nguyên phong phú, chi phí cạnh tranh, an toàn và ngày càng dễ tiếp cận bằng đường hàng không có nhiều điều kiện để mở rộng thị trường.
Nhưng khách tới một điểm đến mới chỉ là mở đầu của câu chuyện.
Khoảng trống nằm ở phần sau của chuyến đi
Trong 17 trụ cột, Việt Nam có 13 trụ cột nằm từ nhóm trung bình cao đến hàng đầu thế giới. Bốn trụ cột còn lại nằm trong nhóm hạng trung bình thấp và thấp: Hạ tầng và Dịch vụ du lịch đứng thứ 74; Sự bền vững về môi trường thứ 76; Mức độ ưu tiên cho du lịch thứ 97; Tác động kinh tế-xã hội của du lịch thứ 106.
Khoảng cách giữa Hạ tầng vận tải hàng không ở vị trí 34 và Hạ tầng và Dịch vụ du lịch ở vị trí 74 là một ví dụ khá dễ hình dung. Một đường bay tốt giúp du khách đến Việt Nam thuận lợi hơn, nhưng sau khi xuống sân bay, chất lượng chuyến đi còn phụ thuộc vào đường sá, phương tiện kết nối, thông tin, lưu trú, dịch vụ, sản phẩm trải nghiệm và khả năng di chuyển giữa các điểm đến.
Nếu những mắt xích ấy không cùng được nâng lên, lợi thế ở một khâu khó chuyển thành giá trị lớn hơn cho cả hành trình.
Bền vững môi trường cũng là khoảng trống đáng lưu ý khi Tài nguyên tự nhiên của Việt Nam đứng thứ 22 nhưng Sự bền vững về môi trường đứng thứ 76. Tài nguyên càng trở thành lý do để du khách tìm đến thì áp lực bảo vệ tài nguyên càng lớn. Biển, rừng, sông, hồ, đất ngập nước hay các khu bảo tồn không chỉ là nơi tạo ra sản phẩm du lịch; đó còn là nền tảng để sản phẩm ấy tồn tại lâu dài.
Một điểm đến đông khách nhưng xuống cấp về cảnh quan, quá tải về hạ tầng hoặc phải trả giá bằng chất lượng môi trường sẽ khó duy trì sức hấp dẫn trong dài hạn. Với những điểm đến dựa nhiều vào thiên nhiên, bài toán sức chịu tải, xử lý chất thải, bảo vệ hệ sinh thái và tổ chức dòng khách vì thế ngày càng gắn chặt với năng lực cạnh tranh.
Hai vị trí thấp nhất của Việt Nam trong TTDI 2026 lại chạm vào câu chuyện rộng hơn khi Mức độ ưu tiên cho du lịch đứng thứ 97 và Tác động kinh tế-xã hội của du lịch đứng thứ 106.
Đây không phải những chỉ số có thể cải thiện chỉ bằng một dự án du lịch hay chiến dịch quảng bá. Khi du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, hiệu quả phải được đối chiếu trong mối liên hệ với giao thông, văn hóa, thương mại, nông nghiệp, công nghiệp sáng tạo và sinh kế của người dân.
Một du khách ở thêm một đêm, ăn thêm một bữa tại nhà hàng địa phương, mua một sản phẩm làng nghề hay tham gia một trải nghiệm do cộng đồng tổ chức đều là những cách dòng tiền du lịch đi sâu hơn vào nền kinh tế. Lúc đó, câu chuyện không còn nằm ở việc đón được bao nhiêu người, mà là điểm đến giữ lại được bao nhiêu giá trị từ họ.
Yêu cầu này đang được định vị khá rõ trong định hướng phát triển du lịch của Việt Nam.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh: “Vấn đề cốt lõi là phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách tiếp cận, cách làm, trọng tâm là chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị du lịch từ số lượng sang chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế.”
Thông điệp này đặt kết quả TTDI 2026 vào một bối cảnh rộng hơn. Việt Nam đã có những chỉ số nền tảng khá tốt để thu hút khách, nhưng những trụ cột về hạ tầng dịch vụ, môi trường, mức độ ưu tiên và tác động kinh tế-xã hội lại cho thấy phần việc phía sau còn nhiều.
Khi phần lớn các điểm đến cùng cải thiện, lợi thế không còn đơn giản chỉ cần có thêm tài nguyên hay thêm khách, các chuyên gia nhận định thách thức của du lịch Việt hiện nay đã chuyển từ phục hồi sang quản lý tăng trưởng, trong đó đầu tư, chi phí, sức ép môi trường và việc phân bổ lợi ích từ du lịch đang trở thành thách thức.
Với Việt Nam, TTDI 2026 vì thế có giá trị ở phía sau thứ hạng 52. Bảng chỉ số ghi nhận những yếu tố đang tiến lên, nhưng đồng thời khoanh lại những nơi cần đầu tư thêm nếu muốn biến lợi thế về tài nguyên, giá cả và khả năng tiếp cận thành tăng trưởng có chất lượng và bền vững.
Tăng hạng là kết quả đáng ghi nhận, song với một ngành đã đặt mục tiêu trở thành kinh tế mũi nhọn, thước đo quan trọng hơn sẽ là khả năng biến mỗi lợi thế thành một phần giá trị cụ thể: thêm thời gian lưu trú, thêm mức chi tiêu, thêm việc làm, thêm doanh thu cho doanh nghiệp và cộng đồng, trong khi giữ được tài nguyên của điểm đến.
TTDI 2026 chưa trả lời Việt Nam sẽ đi được bao xa. Nhưng bảng chỉ số đã góp phần chỉ ra khá rõ Việt Nam đang có gì trong tay và còn phải cải thiện những gì nếu muốn đi xa hơn./.
Đâu là “điểm tựa” để du lịch Việt Nam tăng trưởng hai con số?
Để duy trì tăng trưởng hai con số, du lịch Việt Nam không chỉ đặt mục tiêu về lượng khách mà đang thiết kế một lộ trình từ năm 2026, tạo nền cho mục tiêu 45-50 triệu khách quốc tế vào năm 2030.