Nghị quyết 26: Cú huých đưa du lịch từ “đoàn tàu đơn độc” tới đầu máy của nền kinh tế

Nghị quyết 26: Cú huých đưa du lịch từ “đoàn tàu đơn độc” tới đầu máy của nền kinh tế

Nghị quyết 26-NQ/TW mở ra một cách nhìn mới về du lịch: không chỉ đón khách, tăng thu mà phải trở thành “đầu máy” kéo theo nhiều ngành cùng tăng trưởng. Để làm được vậy, Việt Nam phải đổi cách làm.

Bên cạnh mục tiêu đón thêm nhiều du khách, Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa ký ban hành đang mở ra cách nhìn khác về du lịch Việt Nam: từ một ngành dịch vụ trở thành động lực tăng trưởng mới, có khả năng kết nối và tạo giá trị cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.

Khi mỗi chuyến đi không chỉ tạo doanh thu cho khách sạn, lữ hành hay hàng không, mà còn kéo theo nông nghiệp, văn hóa, thương mại, công nghiệp sáng tạo và kinh tế đêm cùng chuyển động, bài toán của du lịch cũng phải được nhìn bằng một tư duy khác.

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Viện trưởng Viện Phát triển du lịch châu Á (ATI), ông Phạm Hải Quỳnh cho rằng để bước qua ngưỡng “ngành dịch vụ có quy mô lớn” và thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch Việt Nam phải từ bỏ cách làm manh mún, chạy theo số lượng để chuyển sang tạo ra giá trị cao hơn cho mỗi du khách.

Theo ông, đó là câu chuyện của những sản phẩm đủ khác biệt để giữ chân khách, một “hạ tầng chi tiêu” đủ sức mở hầu bao, những chuỗi giá trị được liên kết và một phương thức quản trị dựa trên dữ liệu thay vì kinh nghiệm.

“Cuộc chơi” không còn tính bằng số lượng

- Thưa ông, Nghị quyết 26-NQ/TW đặt du lịch vào vị trí một động lực tăng trưởng mới. Ông đánh giá thế nào về bước ngoặt này và chúng ta cần thay đổi căn bản điều gì để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thay vì chỉ là một ngành dịch vụ có quy mô lớn?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Trước hết, tôi đánh giá Nghị quyết số 26-NQ/TW mang tính bước ngoặt, mở ra “kỷ nguyên mới” cho du lịch Việt Nam bằng việc khẳng định lại vai trò động lực tăng trưởng và xác lập vị thế của ngành trong cấu trúc kinh tế quốc gia.

vna-potal-50-nam-thong-nhat-dat-nuoc-hue-phat-trien-du-lich-la-nganh-kinh-te-mui-nhon-7951754-2048x1174.jpg
vna-potal-quang-nam-khach-du-lich-den-my-son-bang-dinh-cao-truoc-dai-dich-covid-19-7742367-1-1620x1080.jpg
vna-potal-my-son-tieng-vong-tu-vuong-quoc-co-tren-dat-di-san-8110215-768x512.jpg
Du khách quốc tế khám phá di sản ở khu vực miền Trung của Việt Nam. (Ảnh: TTXVN)

Nghị quyết không chỉ định hướng sự phát triển của riêng ngành du lịch, mà còn đặt du lịch vào trung tâm của chuỗi giá trị kinh tế-xã hội, làm đòn bẩy thúc đẩy các ngành sản xuất, thương mại và dịch vụ khác. Chuyển dịch mạnh mẽ từ tăng trưởng theo chiều rộng (số lượng khách) sang tăng trưởng theo chiều sâu (chất lượng, chi tiêu, thời gian lưu trú và giá trị gia tăng).

Để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thay vì chỉ là một ngành dịch vụ có quy mô lớn, theo tôi các địa phương và doanh nghiệp cần quán triệt tinh thần “Chuyên nghiệp-Bền vững-Xanh-Sáng tạo.” Đặc biệt, cần loại bỏ triệt để tư duy làm du lịch manh mún, ăn xổi, phong trào; thay vào đó là sự liên kết chặt chẽ và chuẩn hóa trải nghiệm để tạo chuyển biến thực chất.

- Nghị quyết 26-NQ/TW chuyển trọng tâm từ tăng số lượng khách sang tăng giá trị mỗi du khách, nhằm hướng đến mục tiêu năm 2030 đạt tổng doanh thu 80-90 tỷ USD. Vậy theo ông, Việt Nam cần thay đổi điều gì trước tiên để thu hút dòng khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày và tạo giá trị lớn hơn cho nền kinh tế để có thể “về đích” 2030?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Để hiện thực hóa mục tiêu tới năm 2030 toàn ngành đạt tổng doanh thu 80-90 tỷ USD mà không gây áp lực lên hạ tầng và môi trường, việc chuyển trọng tâm sang phân khúc khách chi tiêu cao là bắt buộc, đòi hỏi sự thay đổi toàn diện.

566200915-2923410207846232-242034348820981606-n.jpg
Viện trưởng Viện Phát triển du lịch châu Á (ATI), ông Phạm Hải Quỳnh. (Ảnh: NVCC)

Tôi cho rằng toàn ngành cần phát triển mạnh các dòng sản phẩm đặc thù có dư địa chi tiêu cao như du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch chữa lành, du lịch MICE, du lịch golf và du lịch trải nghiệm di sản cá nhân hóa. Quan trọng hơn, cần nâng tầm chuỗi cung ứng từ khâu tiếp cận (visa, hàng không) đến hạ tầng lưu trú, nhà hàng, điểm đến. Bởi khách chi tiêu cao luôn đòi hỏi tính hoàn hảo ở độ an toàn, tính riêng tư, sự tinh tế và trải nghiệm độc bản.

Để dòng khách này thực sự “mở hầu bao” và ở lại dài ngày, chúng ta cần thiết lập “hạ tầng chi tiêu” và phát triển kinh tế đêm có chiều sâu. Lâu nay khách có tiền nhưng không có chỗ tiêu vì vậy phải hình thành các tổ hợp thương mại miễn thuế trong phố, phố mua sắm hàng hiệu - thủ công cao cấp, chuỗi ẩm thực đạt chuẩn Michelin và các show diễn nghệ thuật quy mô lớn về đêm.

Chúng ta cần cá nhân hóa dịch vụ và chuẩn hóa nhân sự quản gia. Ở phân khúc siêu sang họ không mua phòng ngủ đơn thuần, họ mua sự phục vụ thấu cảm, bảo mật và “dịch vụ may đo” riêng biệt. Đội ngũ nhân lực phục vụ phải đạt chuẩn quốc tế về văn hóa giao tiếp và khả năng ứng biến linh hoạt.

Bên cạnh miễn thị thực phổ thông, cần sớm nghiên cứu các loại thị thực chuyên biệt như Golden Visa, Visa hưu dưỡng cao cấp, Visa cho chuyên gia, kỹ thuật số lưu trú từ 3-6 tháng đi kèm quyền lợi tiếp cận dịch vụ y tế, ngân hàng thuận tiện.

thumb-moi-hai-dpt-2.jpg
vnp-ca-tru.jpg
vnp-z5575411062227-f24ace75b0ca8b9a151e7a27ba7abd9f.jpg
Những trải nghiệm đậm màu sắc văn hóa và mang tính độc bản có tiềm năng thu hút dòng khách cao cấp. (Ảnh: Mai Mai/Vietnam+)

Không để du lịch "đơn thương độc mã"

- Một trong những thay đổi mang tính đột phá từ Nghị quyết 08-NQ/TW đến Nghị quyết 26-NQ/TW là ngành du lịch đã được nhìn như hệ sinh thái kinh tế thay vì một ngành độc lập. Để du lịch thực sự kéo theo các ngành khác cùng tăng trưởng, ông nhận định đâu là mắt xích Việt Nam cần tháo gỡ đầu tiên?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Nếu như Nghị quyết 08-NQ/TW trước đây đặt nền móng xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn với tư cách là một ngành dịch vụ độc lập, thì Nghị quyết 26-NQ/TW đã tạo ra bước nhảy vọt về nhận thức, coi du lịch là một hệ sinh thái kinh tế mở, một ngành kinh tế tổng hợp có khả năng lan tỏa và tạo đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế.

Trong một hệ sinh thái, du lịch đóng vai trò là “đầu ra tiêu dùng cuối cùng” – nơi biến các sản phẩm của nông nghiệp, văn hóa, giao thông, y tế, bất động sản và công nghiệp chế biến thành giá trị kinh tế trực tiếp thông qua trải nghiệm của du khách.

Theo tôi, để cỗ máy hệ sinh thái này vận hành đồng bộ và du lịch thực sự kéo theo các ngành khác cùng tăng trưởng, mắt xích đầu tiên và cốt lõi nhất cần tháo gỡ ngay là thiết lập “cơ chế nhạc trưởng” để tích hợp chuỗi giá trị liên ngành và liên vùng.

Cụ thể, việc tháo gỡ mắt xích này cần được triển khai sâu sắc như phá bỏ tư duy “cát cứ quản lý ngành,” nghĩa là hình thành cơ chế điều phối liên ngành thực quyền. Lâu nay, du lịch muốn kéo ngành khác nhưng lại bị chia cắt bởi ranh giới quản lý hành chính, giao thông vận tải lo luồng tuyến hạ tầng, nông nghiệp lo sản xuất sản phẩm OCOP, công thương lo thương mại bán lẻ, văn hóa lo bảo tồn di sản...

sustainability-108.jpg
Du lịch đứng trước cơ hội vươn lên với vị thế "đầu tàu" của nền kinh tế nước nhà. (Ảnh minh họa: CTV/Vietnam+)

Chính sự thiếu vắng một tiếng nói chung khiến du lịch rơi vào tình trạng “mạnh ai nấy làm,” các ngành không bổ trợ được cho nhau. Vì vậy cần cơ chế Hội đồng Điều phối Phát triển Du lịch Quốc gia và cấp Vùng với thẩm quyền đủ mạnh, hoạt động theo cơ chế chỉ đạo liên ngành thực chất chứ không phải kiêm nhiệm hình thức.

Khi quy hoạch một cung đường giao thông, một vùng nguyên liệu nông sản hay một khu bảo tồn văn hóa, tư duy dịch vụ du lịch và trải nghiệm du khách phải được tích hợp ngay từ khâu thiết kế quy hoạch ban đầu.

Bên cạnh đó, cần tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ứng “xuất khẩu tại chỗ” cho nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Bởi du khách quốc tế hay nội địa khi tới một điểm đến thực chất là họ đang trực tiếp nhập khẩu sản phẩm của địa phương đó ngay tại chỗ mà không cần vượt qua hàng rào thuế quan quốc tế.

Chúng ta cần chuẩn hóa chuỗi cung ứng nông sản an toàn, sản phẩm làng nghề, OCOP 4-5 sao để đưa trực tiếp vào chuỗi khách sạn, nhà hàng và các khu nghỉ dưỡng cao cấp. Chuyển đổi mô hình nông nghiệp thuần túy sang “nông nghiệp trải nghiệm” và “du lịch nông thôn có thương hiệu.”

1kg chè hay 1kg càphê bán thô thường chỉ có giá vài chục nghìn đồng, nhưng khi được đóng gói thành câu chuyện văn hóa thưởng trà, trải nghiệm hái chè tại đồn điền, giá trị gia tăng có thể tăng gấp 10-20 lần.

vnp-lang-chuong-anh-1-1.jpg
vnp-lang-chuong-anh-1-6.jpg
vnp-vitm-2026-4-4523.jpg
Sản phẩm OCCOP và du lịch làng nghề là một trong những trải nghiệm được du khách quốc tế ưa chuộng. (Ảnh: Mai Mai, Khánh Huyền/Vietnam+)

Song hành với các điều kiện cần thì chúng ta cũng cần tích hợp du lịch với công nghiệp văn hóa và kinh tế đêm. Bởi du lịch là thị trường tiêu thụ lớn nhất của các sản phẩm nghệ thuật, biểu diễn, thời trang, thiết kế và ẩm thực, cần xóa bỏ các rào cản hành chính về thủ tục cấp phép biểu diễn, tổ chức sự kiện âm nhạc, thể thao quy mô quốc tế để thu hút dòng khách chất lượng cao.

Cần xây dựng chính sách đột phá cho kinh tế ban đêm với việc mở rộng khung giờ hoạt động dịch vụ, hình thành các tổ hợp thương mại-ẩm thực-nghệ thuật đường phố về đêm có kiểm soát an ninh tốt. Bởi đây chính là khu vực tạo ra việc làm và kéo theo ngành bán lẻ, vận tải nội đô tăng trưởng bùng nổ nhất.

Chỉ khi tháo gỡ được mắt xích cơ chế điều phối chuỗi giá trị, du lịch sẽ không còn là một đoàn tàu chạy đơn độc, mà sẽ trở thành đầu máy kéo theo hàng loạt toa tàu kinh tế khác cùng chuyển động với tốc độ cao và bền vững.

Ông Phạm Hải Quỳnh

Đặc biệt, tôi cho rằng phải xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng trong hệ sinh thái. Một hệ sinh thái chỉ phát triển bền vững khi mọi thành tố tham gia đều thấy được lợi ích kinh tế cụ thể. Vì vậy phải có cơ chế để doanh nghiệp lữ hành, hàng không, cơ sở lưu trú trích lại tỷ lệ doanh thu hợp lý tái đầu tư cho cộng đồng bản địa – những người trực tiếp giữ rừng, giữ gìn phong tục tập quán và di sản văn hóa.

Khi người dân thấy nguồn thu từ du lịch giúp con em họ được đi học, cuộc sống được nâng cao, họ sẽ trở thành chủ thể tích cực nhất cùng các ngành bảo vệ và phát triển hệ sinh thái điểm đến.

Chỉ khi tháo gỡ được mắt xích cơ chế điều phối chuỗi giá trị, du lịch sẽ không còn là một đoàn tàu chạy đơn độc, mà sẽ trở thành đầu máy kéo theo hàng loạt toa tàu kinh tế khác cùng chuyển động với tốc độ cao và bền vững.

ttxvn-trong-quan-bui-xa-2-2209.jpg
ttxvntrong-quan-bui-xa-1-2209.jpg
Cộng đồng bản địa – những người trực tiếp giữ rừng, giữ gìn phong tục tập quán và di sản văn hóa. (Ảnh: TTXVN)

Từ “cát cứ dữ liệu” tới điểm đến thông minh

- Một trong những “điểm sáng” của Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển mạnh sang quản trị điểm đến bằng dữ liệu, công nghệ và AI, đồng thời phát triển du lịch xanh, bền vững. Theo ông, cuộc chuyển đổi này trước hết là câu chuyện của công nghệ, hay thực chất là một cuộc thay đổi tư duy quản trị của toàn ngành?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Tôi xin khẳng định một cách dứt khoát, đây không phải là câu chuyện chạy đua mua sắm phần mềm hay công nghệ, mà bản chất 80% là cuộc cách mạng về thay đổi tư duy quản trị và tái cấu trúc phương thức vận hành của toàn ngành.

Công nghệ, dữ liệu lớn (Big Data) hay Trí tuệ nhân tạo (AI) suy cho cùng chỉ là công cụ hỗ trợ. Công cụ dù hiện đại đến đâu nhưng nếu tư duy quản lý vẫn mang nặng tính hành chính cũ kỹ, thủ công, dựa vào cảm tính và “kinh nghiệm chủ quan” thì công nghệ cũng chỉ nằm trên giấy hoặc biến thành những phần mềm bỏ hoang.

- Và ông đánh giá đâu là rào cản lớn nhất nếu du lịch Việt muốn quản trị điểm đến thông minh?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Quản trị điểm đến thông minh theo tinh thần Nghị quyết 26 là năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu thực tế theo thời gian thực. Biết chính xác luồng khách đang dồn về đâu để chủ động điều tiết tải trọng, tránh quá tải và hủy hoại môi trường sinh thái (gắn liền với mục tiêu du lịch xanh).

Quản trị điểm đến thông minh chính là việc phân tích chính xác chân dung, hành vi và mức độ hài lòng của du khách để tối ưu hóa xúc tiến và cá nhân hóa trải nghiệm; cảnh báo sớm rủi ro an ninh, an toàn, ô nhiễm và xử lý khủng hoảng điểm đến một cách chủ động thay vì “mất bò mới lo làm chuồng.”

untitled.png
galaxy-ai-4.jpg
shutterstock-offset-2595145793-1.jpg
Công nghệ số đang thay đổi cách du khách trải nghiệm sản phẩm du lịch. (Ảnh minh họa: CTV, Vietnam+)

Về rào cản, nếu du lịch Việt Nam muốn quản trị điểm đến thông minh thực chất, chúng ta đang đối mặt với 3 điểm nghẽn lớn nhất:

Thứ nhất, “căn bệnh cát cứ dữ liệu” và thiếu cơ chế chia sẻ là rào cản mang tính then chốt. Hiện nay, dữ liệu của ngành du lịch đang bị phân mảnh ở vô số “ngăn kéo” riêng biệt. Dữ liệu xuất nhập cảnh thuộc quản lý công an; dữ liệu lưu trú, doanh thu thuộc cơ quan thuế và khách sạn; dữ liệu vé tham quan thuộc các ban quản lý di tích; dữ liệu thanh toán thuộc ngân hàng; còn dữ liệu hành vi tìm kiếm thuộc các sàn OTA quốc tế.

Khi các ngành, các địa phương và doanh nghiệp vẫn giữ tư duy dữ liệu của tôi là tài sản riêng của tôi, không chịu tích hợp vào một nền tảng dữ liệu du lịch quốc gia dùng chung, thì AI sẽ không có “nguyên liệu sạch” để học và phân tích.

Thứ hai, “khoảng cách số” quá lớn giữa các mắt xích trong hệ sinh thái. Một điểm đến thông minh không thể chỉ có các thành phố lớn hay các khu nghỉ dưỡng 5 sao có công nghệ, trong khi hệ thống vệ tinh như du lịch cộng đồng, hợp tác xã nông nghiệp, các hộ kinh doanh bản địa ở vùng sâu, vùng xa lại hoàn toàn nằm ngoài vùng phủ sóng số.

Nếu các mắt xích vi mô ở cơ sở không được trang bị kỹ năng số, không biết cách cập nhật dữ liệu và đón nhận phản hồi số, chuỗi quản trị thông minh sẽ bị đứt gãy ngay từ tuyến đầu tiếp xúc với du khách.

Thứ ba, sự thiếu hụt nhân lực quản trị vừa am hiểu nghiệp vụ du lịch, vừa có tư duy công nghệ. Chúng ta có chuyên viên du lịch giỏi nghiệp vụ truyền thống và có các kỹ sư công nghệ thông tin giỏi lập trình, nhưng lại thiếu trầm trọng những nhà quản trị có khả năng kết nối cả hai, hiểu du lịch cần gì để đặt đề bài chuẩn xác cho công nghệ, và biết cách đọc các chỉ số dữ liệu để biến chúng thành chiến lược kinh doanh và chính sách phát triển bền vững.

w-164-trai-nghiem-tran-huu-minh-0942074444.jpg
Chuyển đổi số là bệ đỡ, công cụ giúp điểm đến Việt Nam giữ được bản sắc riêng độc đáo. (Ảnh minh họa: Cục Du lịch quốc gia Việt Nam)

Chuyển đổi số và quản trị điểm đến thông minh không phải là đích đến, mà là phương tiện để đạt mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo vệ tính bền vững của điểm đến. Nếu không quyết liệt phá bỏ tư duy cục bộ để đồng bộ hóa dữ liệu và nâng cao năng lực con người, chúng ta sẽ rất khó biến công nghệ thành động lực tăng trưởng thực chất cho ngành du lịch Việt Nam.

Để lợi thế thành vị thế

- Nghị quyết 26-NQ/TW cumgx đặt mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới. Nếu nhìn từ thực tiễn ngành du lịch, ông cho rằng điều gì Việt Nam cần thay đổi mạnh nhất để từ một điểm đến “có nhiều lợi thế” trở thành một điểm đến thực sự có sức cạnh tranh trên bản đồ du lịch toàn cầu, và đặc biệt để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn?

Ông Phạm Hải Quỳnh: Trước hết, để thực sự tăng cao sức cạnh tranh trên bản đồ du lịch toàn cầu, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ 4 trụ cột:

- Lấy văn hóa bản địa làm cốt lõi và lấy nguyên tắc “xanh” làm thước đo. Không thương mại hóa di sản một cách khiên cưỡng mà phải chuyển hóa văn hóa thành tài sản kinh tế thông qua sự sáng tạo.

Lấy văn hóa bản địa làm cốt lõi và lấy nguyên tắc “xanh” làm thước đo. Không thương mại hóa di sản một cách khiên cưỡng mà phải chuyển hóa văn hóa thành tài sản kinh tế thông qua sự sáng tạo.

- Xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh đồng bộ toàn quốc. Ứng dụng AI, Big Data để phân tích hành vi du khách, cá nhân hóa tiếp thị và tự động hóa các thủ tục nhập cảnh, hỗ trợ du khách 24/7.

- Đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động ngành du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế, chú trọng năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số và tư duy phục vụ chuyên nghiệp.

Cuối cùng, để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, theo tôi cần có sự phối hợp “ba nhà” thật nhịp nhàng và quyết liệt ngay từ thời điểm này. Nhà nước tiếp tục thông thoáng chính sách visa, ưu đãi thuế/tín dụng cho các dự án du lịch xanh; đột phá hạ tầng giao thông kết nối đến các vùng động lực phát triển du lịch.

Địa phương xóa bỏ tư duy cục bộ. Các tỉnh, thành phố cần bắt tay xây dựng hành trình “một điểm đến - nhiều trải nghiệm,” dùng chung nguồn lực xúc tiến và quản lý môi trường du lịch an toàn, văn minh. Doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong đổi mới sáng tạo, chủ động nâng cấp chất lượng dịch vụ, xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng và tích cực tham gia vào chuỗi giá trị du lịch toàn cầu.

Sự hợp lực đồng bộ này sẽ giúp du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo làn sóng lan tỏa mạnh mẽ sang thương mại, vận tải, nông nghiệp và bảo tồn văn hóa quốc gia.

- Xin cảm ơn những chia sẻ của ông./.

vna-potal-50-nam-thong-nhat-dat-nuoc-du-lich-tro-thanh-nganh-kinh-te-mui-nhon-cua-quang-nam-7937739-1.jpg
Khi các địa phương xóa bỏ tư duy cục bộ, sẽ xây dựng được những hành trình “một điểm đến - nhiều trải nghiệm” hấp dẫn du khách. (Ảnh minh họa: TTXVN)
(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục

Thi giã bánh dày tại phiên chợ vùng cao “Về miền nhớ thương” ở Mường Lựm, xã Chiềng Hặc. (Ảnh: Quang Quyết/TTXVN)

Rộn ràng ghé thăm “Mường quên lãng” ở Sơn La

Từ những phiên chợ vùng cao rộn ràng sắc màu, những sản vật mang hương vị núi rừng, đến di tích lịch sử, hồ nước giữa rừng nguyên sinh..., tất cả đang mở ra những câu chuyện mới về Mường Lựm.

Cá linh là loại đặc sản của miền Tây chỉ có trong mùa nước nổi. (Ảnh: Công Mạo/TTXVN)

Mùa cá linh nơi đầu nguồn biên giới An Giang

Khi nước lũ từ thượng nguồn sông Mekong đổ về, cá linh theo dòng lũ vào đồng, trở thành nguồn sản vật tự nhiên, sinh kế quen thuộc và mang lại nguồn thu nhập cho người dân An Giang trong mùa nước nổi.