Vụ sữa giả tại Z Holding: Bản án nghiêm khắc “bịt lỗ hổng” về công tác quản lý

Hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy còn thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan thuế, quản lý thị trường, y tế, công thương, công an, dẫn đến việc phát hiện sai phạm chậm, khi hậu quả đã nghiêm trọng.
Đại diện Viện Kiểm sát khẳng định "Hàm lượng trong sữa giả vượt quá mức công bố không đồng nghĩa với tốt hơn”. (Ảnh: Kim Anh/TTXVN)

Chiều 14/1, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên án phạt 18 bị cáo trong vụ án sữa giả tại Công ty Z Holding về các tội: “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm" (theo quy định tại Điều 193-Bộ luật Hình sự), "Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng" (theo quy định tại Điều 221-Bộ luật Hình sự) và "Rửa tiền" (theo quy định tại Điều 324-Bộ luật Hình sự).

Quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy còn có nhiều “lỗ hổng” về thể chế và công tác quản lý hàng hóa, sản phẩm là thực phẩm, kế toán tài chính doanh nghiệp, quản lý dòng tiền.

Trên cơ sở đó, bản án sơ thẩm đã đưa ra nhiều kiến nghị trọng tâm mang tính tổng thể, trực diện, góp phần khắc phục triệt để những “lỗ hổng” này.

Chỉ rõ những bất cập trong công tác quản lý

Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nêu rõ, vụ án “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm; Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; Rửa tiền” xảy ra tại Công ty Z Holding là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, quy mô lớn, có tính chất phức tạp, kéo dài.

Hoàng Quang Thịnh (Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty Z Holding) cùng các đồng phạm đã tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng giả là thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung (sữa bột HIUP) với tổng doanh thu bất hợp pháp lên đến hàng nghìn tỷ đồng, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Các bị cáo trong vụ án đã dùng các thủ đoạn che giấu doanh thu của doanh nghiệp, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước số tiền đặc biệt lớn, làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin xã hội đối với công tác quản lý an toàn thực phẩm, sự công bằng trong kinh doanh, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội.

Thông qua việc xét xử vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy còn có nhiều "lỗ hổng" về thể chế và công tác quản lý hàng hóa, sản phẩm là thực phẩm, kế toán tài chính doanh nghiệp, quản lý dòng tiền.

Cụ thể, công tác quản lý chất lượng, cấp phép và hậu kiểm còn lỏng lẻo. Việc kiểm nghiệm, thẩm định, giám sát chất lượng thực phẩm chức năng chủ yếu dựa vào hồ sơ do doanh nghiệp cung cấp, thiếu cơ chế kiểm chứng độc lập và kiểm tra định kỳ.

Quang cảnh phiên đối đáp. (Ảnh: Kim Anh/TTXVN)

Hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án này cho thấy còn thiếu sự phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thuế, quản lý thị trường, y tế, công thương và công an. Giữa các cơ quan này chưa có cơ chế chia sẻ dữ liệu đồng bộ, dẫn đến việc phát hiện sai phạm chậm trễ, khi hậu quả đã nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cơ chế kiểm soát kế toán, tài chính doanh nghiệp còn nhiều bất cập, việc doanh nghiệp lập sổ sách kép, khai man doanh thu để trốn thuế với quy mô lớn cho thấy còn chưa thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát tài chính doanh nghiệp.

Mặt khác, công tác kiểm duyệt quảng cáo, truyền thông sản phẩm chưa chặt chẽ. Doanh nghiệp lợi dụng mạng xã hội, người nổi tiếng để quảng bá sản phẩm sai sự thật, trong khi cơ quan quản lý thiếu công cụ giám sát và chế tài đủ mạnh.

Đặc biệt, hệ thống pháp luật về phòng, chống rửa tiền chưa chặt chẽ; các dòng tiền từ hoạt động phi pháp được hợp thức hóa qua nhiều tài khoản và doanh nghiệp “vỏ bọc,” trong khi cơ chế giám sát giao dịch đáng ngờ còn chưa thực chất.

Kiến nghị tổng quan, trực diện

Các bị cáo tại phiên tòa xét xử. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN)

Bản án sơ thẩm đã dành riêng một mục để đưa ra những kiến nghị mang tính tổng quan, trực diện nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu “bịt kín những lỗ hổng” về thể chế và công tác quản lý trong hoạt động của các cơ quan nhà nước thể hiện tại vụ án này.

Theo đó, bản án sơ thẩm nhấn mạnh kiến nghị đối với các chính sách pháp luật. Cụ thể, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm; rà soát, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ theo hướng kiểm soát chặt chẽ tất cả các sản phẩm là thực phẩm, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Từ đó, siết chặt công tác quản lý, quy trình cấp phép cho các đơn vị kiểm định, xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể về trình độ chuyên môn nhân sự và yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị kiểm nghiệm.

Đặc biệt, yêu cầu bắt buộc kiểm nghiệm độc lập, công khai kết quả kiểm nghiệm; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về các đơn vị kiểm nghiệm được cấp phép gắn với hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất các đơn vị kiểm nghiệm.

Hội đồng xét xử cho rằng, cần tăng cường hậu kiểm, kiểm soát định kỳ đối với các sản phẩm do doanh nghiệp tự công bố, xây dựng quy trình bắt buộc lấy mẫu theo từng lô hàng. Song song với đó, tăng cường kiểm tra, giám sát hàng hóa lưu thông trên thị trường, đặc biệt là thực phẩm, gắn với việc kiểm soát hàng hóa giả, hàng kém chất lượng; xây dựng cơ sở dữ liệu về hàng hóa, làm cơ sở cho việc truy xuất nguồn gốc, chống buôn lậu, chống hàng giả, hàng kém chất lượng.

Về công tác kiểm tra giám sát tài chính, kế toán doanh nghiệp, Tòa xác định cần tăng cường quy định đảm bảo phát hiện các hành vi vi phạm nhanh chóng, kịp thời, có chế tài nghiêm khắc với hành vi lập sổ sách kép, trốn thuế, gian lận kế toán. Trong hoạt động này, cần định kỳ đối soát dữ liệu doanh thu, sản lượng, cấp phép để phát hiện dấu hiệu bất thường.

Trên cơ sở đó, bản án sơ thẩm kiến nghị các cơ quan chức năng cần cải thiện cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu theo hướng “Thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông giữa cơ quan cấp phép sản phẩm, cơ quan thuế, hải quan, công an, quản lý thị trường và y tế.”

Các cơ quan này cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động quảng cáo, thương mại điện tử; ban hành quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của người quảng cáo, KOLs, nền tảng mạng xã hội khi quảng bá sản phẩm có yếu tố sức khỏe; bắt buộc xác thực sản phẩm qua mã định danh, tem điện tử hoặc truy xuất nguồn gốc trực tuyến.

Nhằm ngăn chặn các hành vi “rửa tiền” trong tương lai, Tòa kiến nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện cơ chế kiểm soát rửa tiền và giao dịch đáng ngờ. Trong đó, rà soát, bổ sung các quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền để mở rộng đối tượng báo cáo bắt buộc đối với doanh nghiệp. Ngoài ra, cần quy định nghĩa vụ xác minh nguồn gốc vốn và báo cáo giao dịch bất thường đối với doanh nghiệp có quy mô doanh thu lớn hoặc tăng trưởng đột biến.

Về hoạt động quản lý, Tòa cấp sơ thẩm kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tăng cường quản lý giám sát chặt chẽ việc sản xuất, buôn bán hàng hóa là lương thực, thực phẩm; ngăn chặn kịp thời, không để xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này, ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng.

Đồng thời, kiến nghị các cơ quan thuế trong việc tăng cường quản lý việc lập hồ sơ, kê khai thuế của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức thương mại điện tử kiểm soát chặt chẽ hành vi lập nhiều sổ sách kế toán, kê khai thuế không đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử cũng đề nghị Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát tiếp tục quyết liệt đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi phạm tội trong lĩnh vực này. “Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về hình sự để xử lý kịp thời, sớm hơn các hành vi vi phạm, không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng mới xử lý, đồng thời bổ sung cơ sở pháp lý xử lý nghiêm minh đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm nghiệm, lợi dụng ảnh hưởng trên không gian mạng để trục lợi,” bản án sơ thẩm nhấn mạnh./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục