Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Ra đời năm 1929, trải qua 97 năm hình thành và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, luôn làm tốt vai trò là tổ chức đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, là “sợi dây” nối Đảng, Nhà nước với quần chúng công nhân, viên chức, người lao động, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công đoàn Việt Nam gắn bó mật thiết với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Cuối thế kỷ XIX, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm thay đổi sâu sắc cấu trúc xã hội Việt Nam. Giai cấp công nhân ra đời khi các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền... lần lượt hình thành.
Xuất thân từ những người nông dân mất ruộng đất, những người thợ thủ công bị phá sản, họ mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần căm thù giặc sâu sắc.
Sự kiện thành lập Công hội Ba Son (Sài Gòn) năm 1920 do người công nhân ưu tú Tôn Đức Thắng khởi xướng đánh dấu một bước ngoặt, mở đầu cho phong trào đấu tranh có tổ chức của giai cấp công nhân Việt Nam.
Ngày 28/7/1929, tại nhà số 15 phố Hàng Nón - Hà Nội, dưới sự lãnh đạo của Đông Dương Cộng sản Đảng, Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ đã được triệu tập. Đại hội bầu Ban Chấp hành lâm thời Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng đứng đầu.
Đại hội đã thông qua Chương trình, Điều lệ của Công hội; đồng thời quyết định xuất bản Báo Lao động và Tạp chí Công hội đỏ nhằm tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ giai cấp công nhân.
Sự ra đời của Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự hình thành tổ chức công đoàn cách mạng tại Việt Nam, đặt nền móng cho hệ thống tổ chức Công đoàn thống nhất trong cả nước.
Đây là bước ngoặt trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam, góp phần tập hợp, tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh vì quyền lợi kinh tế, chính trị; đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.
Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), Tổng Công hội Đỏ đã trở thành lực lượng nòng cốt, đội quân chủ lực trong cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Dù bị thực dân Pháp đàn áp dã man, tổ chức Công hội vẫn kiên cường bám rễ trong quần chúng, linh hoạt thay đổi hình thức hoạt động từ Nghiệp đoàn, Hội Ái hữu (thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936-1939) đến "Hội công nhân phản đế" và sau là "Hội Công nhân cứu quốc" (thời kỳ vận động giải phóng dân tộc 1939-1945).
Lực lượng công nhân, đoàn viên công đoàn đã trở thành hạt nhân của các đội tự vệ, các cuộc bãi công chính trị, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam đã tiên phong trong xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền non trẻ, tham gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, diệt “giặc dốt, giặc đói.”
Công đoàn Việt Nam đã động viên công nhân viên chức-lao động cả nước tích cực tham gia trên các mặt trận, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi.
Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Công đoàn Việt Nam đã tổ chức, vận động công nhân viên chức-lao động ra sức thi đua, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tập trung chi viện cho chiến trường miền Nam.
Ngày 5/11/1957, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 108-SL/L10 về ban hành Luật Công đoàn đã tạo cơ sở pháp lý, nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn, củng cố vai trò lãnh đạo của gia cấp công nhân trong tình hình mới.
Ở miền Bắc, cán bộ đoàn viên công đoàn đã lao động quên mình với tinh thần “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược,” “Tất cả cho tiền tuyến,” “tay búa, tay súng” phục vụ sản xuất và chiến đấu.
Hàng vạn cán bộ đoàn viên công đoàn và thanh niên công nhân đã lên đường tòng quân, hành quân vượt Trường Sơn vào miền Nam, sát cánh cùng quân và dân miền Nam đánh Mỹ.
Ở miền Nam, Liên hiệp Công đoàn giải phóng miền Nam được thành lập (năm 1965) đã không ngừng củng cố và phát triển, vừa tổ chức cho công đoàn viên các thành phố đấu tranh, vừa động viên công đoàn viên vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất phục vụ chiến đấu.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, Công đoàn giải phóng đã vận động công đoàn viên ở các đô thị đồng loạt nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Tháng 6/1976, Hội nghị Công đoàn toàn quốc đã quyết định thống nhất tổ chức Công đoàn hai miền, giữ tên gọi Tổng Công đoàn Việt Nam.
Đại hội lần thứ VI Công đoàn Việt Nam (từ ngày 17 đến 20/10/1988) quyết định đổi tên Tổng Công đoàn Việt Nam thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn tích cực vận động người lao động cùng quân, dân cả nước thực hiện chủ trương đổi mới.
Xứng đáng là tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động
Từ những ngày đầu thành lập Tổng Công hội Đỏ chỉ với vài nghìn đoàn viên, đến nay, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã lớn mạnh, là ngôi nhà chung của hàng chục triệu đoàn viên trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Công đoàn Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò là tổ chức đại diện tin cậy của người lao động, cơ sở chính trị-xã hội vững chắc của Đảng, Nhà nước, là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với người lao động.
Tổ chức công đoàn đã có những đóng góp trực tiếp cụ thể hóa các nhiệm vụ của công cuộc đổi mới, từng bước xây dựng đất nước giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Đảng và dân tộc trong 40 năm qua.
Theo ông Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, giai đoạn 2023-2026, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, song đội ngũ cán bộ công đoàn, đoàn viên và người lao động cả nước đã đoàn kết, nỗ lực triển khai Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam đạt nhiều kết quả toàn diện, với nhiều điểm nhấn nổi bật.
Trong đó, các cấp công đoàn đã thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động; chủ động tham gia phát triển việc làm bền vững, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.
Điểm nhấn nổi bật là việc xây dựng Luật Công đoàn (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XV thông qua; đồng thời các cấp công đoàn chủ động đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động và hoạt động công đoàn.
Mô hình trung tâm tư vấn và hỗ trợ người lao động được hình thành, phát huy hiệu quả, đang được nghiên cứu nhân rộng. Hoạt động tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho đoàn viên, người lao động, nhất là trong tham gia tố tụng giải quyết các vụ án lao động, vụ việc lao động tại tòa án được chú trọng.
Tư vấn pháp luật trực tiếp gần 30 nghìn lượt và trực tuyến cho hàng triệu lượt đoàn viên, người lao động; hỗ trợ, đại diện hơn 500 vụ tranh chấp lao động cá nhân.
Công đoàn tích cực nắm bắt, tham gia giải quyết kịp thời, hiệu quả tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể; số các cuộc ngừng việc tập thể tiếp tục giảm.
Nhiều chương trình, mô hình, hoạt động chăm lo lợi ích cho đoàn viên, người lao động được duy trì, nhân rộng. Bên cạnh các mô hình truyền thống, như: “Tết Sum vầy,” Chợ Tết công đoàn, Ngày hội công nhân, Chuyến xe công đoàn, “Mái ấm công đoàn,” “ Phúc lợi đoàn viên,” “ Tháng Công nhân,” đã hình thành một số mô hình mới trong chăm lo, thu được kết quả tích cực, tiêu biểu, như: “Bữa cơm công đoàn”, “Bữa cơm tất niên công đoàn,” “Cảm ơn người lao động.”
Đặc biệt, “Bữa cơm Công đoàn” là mô hình mới được hàng vạn công đoàn cơ sở hưởng ứng, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn ca, tăng cường sự gắn kết, sẻ chia giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Qua 2 năm tổ chức, đã có hơn 20 nghìn công đoàn cơ sở tổ chức “Bữa cơm Công đoàn” với sự tham dự của hơn 5 triệu đoàn viên.
Bên cạnh đó, đoàn viên, người lao động tích cực ủng hộ, hỗ trợ các trường hợp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, các hoạt động xã hội, tri ân, đền ơn đáp nghĩa.
Tổng Liên đoàn đã chủ động đề xuất, phối hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách trong xây dựng nhà ở cho công nhân lao động; đồng thời tích cực triển khai đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân thuê theo quy định tại Luật Nhà ở.
Các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ, khơi dậy khát vọng cống hiến, thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của đoàn viên, người lao động.
Thông qua các phong trào thi đua, đã có hơn 383.837 sáng kiến, ứng dụng trong thực tiễn, tổng giá trị làm lợi hơn 40 nghìn tỷ đồng, là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội, nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.
Các phong trào thi đua “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo,” “ Tham mưu giỏi, Phục vụ tốt,” “Giỏi việc nước, đảm việc nhà,” “Văn hóa, thể thao”, “Xanh - Sạch - Đẹp, Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động” tiếp tục được điều chỉnh, cụ thể hóa và triển khai sâu rộng trong các cấp công đoàn.
Phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo, hiệu quả trong hoạt động của tổ chức Công đoàn” tiếp tục lan tỏa, tạo động lực thúc đẩy, khích lệ đội ngũ cán bộ công đoàn đề xuất các sáng kiến, ý tưởng sáng tạo, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn.
Công tác xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, tập hợp đông đảo người lao động gia nhập Công đoàn Việt Nam tiếp tục được chú trọng. Các cấp công đoàn đã quyết liệt triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống công đoàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn, song với sự nỗ lực của các cấp công đoàn, cả nước đã phát triển mới hơn 2,2 triệu đoàn viên cùng hơn 15.000 công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn cơ sở mới.
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, các cấp công đoàn cũng tập trung triển khai việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và phương án sắp xếp lại địa giới hành chính.
Công đoàn cũng tích cực tham gia xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tham mưu, đề xuất Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 10/1/2026, về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới.”
Các cấp công đoàn giới thiệu hơn 200 nghìn đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, bồi dưỡng; gần 100 nghìn đoàn viên được kết nạp Đảng.
Bên cạnh đó, công tác nữ công, đối ngoại và hội nhập quốc tế, tài chính công đoàn, kiểm tra, giám sát tiếp tục được quan tâm; phương thức hoạt động công đoàn tiếp tục được đổi mới, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh.
Có thể khẳng định, xuyên suốt dòng chảy lịch sử dân tộc, Công đoàn Việt Nam luôn là ngọn cờ tiên phong, là lực lượng nòng cốt, tập hợp sức mạnh của người lao động, cống hiến to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tiếp bước dưới ngọn cờ của Đảng, phát huy truyền thống vẻ vang của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam, cán bộ công đoàn, đoàn viên, người lao động cả nước đoàn kết, nêu cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm vượt mọi khó khăn, thứ thách, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, thiết thực hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Công đoàn Việt Nam, 100 năm thành lập Đáng Cộng sản Việt Nam, 100 năm thành lập nước, phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.
Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam: “Đoàn kết-Dân chủ-Kỷ cương-Đổi mới-Phát triển”