CPI tháng Mười tăng 0,20% chủ yếu do giá nhiên liệu điều chỉnh tăng lên

CPI tháng 10/2026 tăng 0,20% so với tháng trước, chủ yếu do giá nhiên liệu đi lên. Bình quân 10 tháng, CPI tăng 4,57%, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát.
Diễn biến của thị trường năng lượng toàn cầu đã kéo theo chỉ số giá xăng trong nước tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. (Ảnh: TTXVN)

Ngày 3/11, báo cáo về tình hình kinh tế-xã hội từ Cục Thống kê công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười ghi nhận mức tăng 0,20% so với tháng Chín, nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh đi lên theo giá nhiên liệu thế giới.

Theo đó, CPI tháng trong tháng đã tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong giai đoạn bình quân mười tháng năm 2026, CPI đã tăng 4,57% so với cùng kỳ, đi kèm với đó là mức tăng 4,24% của lạm phát cơ bản.

Nhận định và phân tích về các động lực chính tác động đến chỉ số giá trong tháng, bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng ban Dịch vụ và Giá thuộc Cục Thống kê cho biết trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, có 7 nhóm ghi nhận chỉ số giá tăng và 4 nhóm có chỉ số giá giảm. Sự phân hóa trong rổ hàng hóa tính CPI, phản ánh tác động đan xen của cả yếu tố thị trường quốc tế lẫn cung cầu nội địa.

Động lực tăng giá từ giao thông

Đi vào chi tiết các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng trong tháng Mười, cho thấy nhóm giao thông đang đóng vai trò là nhân tố dẫn dắt. Cụ thể, nhóm này ghi nhận mức tăng 2,66%, qua đó tác động làm CPI chung tăng tới 0,27 điểm phần trăm. Sự biến động này chủ yếu bắt nguồn từ diễn biến của thị trường năng lượng toàn cầu, kéo theo chỉ số giá xăng trong nước tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%.

Bên cạnh nhiên liệu, chi phí nhập khẩu linh kiện tăng cũng đẩy giá nhóm phụ tùng lên 0,49%. Chi phí nhân công nhích lên làm dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,26%, dịch vụ rửa xe, bơm xe cũng tăng 0,51%. Dù vậy, thị trường giao thông vẫn ghi nhận những đặc điểm mang tính mùa vụ, thể hiện qua việc giá vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm mạnh 10,58% do nhu cầu du lịch bước vào mùa thấp điểm và các hãng phải giảm giá vé kích cầu. Tương tự, vận tải đường sắt giảm 2,39%, đi cùng các chương trình ưu đãi từ doanh nghiệp đã kéo giá xe ôtô đã qua sử dụng giảm 1,23%, xe ô tô mới giảm 1,09% và xe máy mới giảm 0,21%.

Nhóm giao thông tăng 2,66%, qua đó tác động làm CPI chung tăng tới 0,27 điểm phần trăm. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Kế đến, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có mức tăng nhẹ 0,04%, chủ yếu do giá gas tăng vọt 10,35% kết hợp với dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,63% và vật liệu bảo dưỡng tăng 0,4%. Tuy nhiên, yếu tố thời tiết chuyển mát đã làm giảm nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt của các hộ gia đình, giúp giá điện sinh hoạt giảm 1,99% (chỉ số này phản ánh biến động trễ một tháng do tính dựa trên doanh thu và sản lượng tháng Chín) và nước sinh hoạt giảm 0,09%. Giá thuê nhà cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 0,22%.

Ngoài ra, các nhóm hàng hóa phục vụ giáo dục và y tế đều ghi nhận mức tăng đồng đều 0,31%. Đối với giáo dục, nguyên nhân trực tiếp đến từ việc một số trường dân lập điều chỉnh tăng học phí năm học mới làm dịch vụ giáo dục tăng 0,33%, cùng với đó đồ dùng học tập (như bút viết, đồ dùng học tập và sản phẩm từ giấy) cũng tăng nhẹ. Về lĩnh vực y tế, một số địa phương đã tiến hành điều chỉnh giá dịch vụ y tế (tăng 0,34%). Đồng thời, giá nhiều loại thuốc và dụng cụ y tế cũng nhích lên, đơn cử như nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid, thuốc điều trị gút tăng 0,34%; Thuốc tác động hệ nội tiết tăng 0,30%; Nhóm thuốc hô hấp tăng 0,27%; Vitamin và khoáng chất tăng 0,23%; Dụng cụ y tế tăng 0,49%.

Trên thị trường, áp lực từ chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển cũng đẩy giá nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình tăng 0,17% và đồ uống, thuốc lá tăng 0,19%. Trong khi hàng thủy tinh, sành sứ, nước giải khát có ga, thuốc hút đồng loạt tăng giá, thì ở chiều ngược lại, các mặt hàng điện máy (như máy hút bụi, điều hòa, tủ lạnh) hay đồ uống (như bia) lại ghi nhận mức giảm nhẹ. Nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,27% nhờ sự sôi động của dịch vụ chăm sóc cơ thể và cắt tóc gội đầu, dù giá đồ trang sức bán ra giảm 1,94% theo nhịp điều chỉnh của giá vàng trong nước.

Ở chiều ngược lại, thị trường ghi nhận bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm. Đáng chú ý, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã “hạ nhiệt” 0,24%, đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần làm CPI chung giảm 0,09 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,57% chủ yếu nhờ nguồn cung dồi dào và giá gạo xuất khẩu xuống thấp, kéo giá gạo tẻ thường, gạo tẻ ngon và gạo nếp giảm. Dù vậy, nhóm lương thực chế biến, bột mì, ngũ cốc, khoai và bánh mì vẫn nhích nhẹ.

Cùng xu hướng, nhóm thực phẩm giảm 0,32% với nguyên nhân chủ yếu là giá thịt lợn giảm 2,33%. Lúc này, nguồn cung lợn trong nước dồi dào nhưng sức tiêu thụ hạn chế, cộng thêm áp lực cạnh tranh từ thịt lợn nhập khẩu giá thấp đã chi phối thị trường. Kéo theo, các mặt hàng như trứng, thịt gia cầm, thịt bò, thủy hải sản cũng đồng loạt giảm. Tuy nhiên, thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng đến nguồn cung rau tươi, làm mặt hàng này tăng 1,62%, đi kèm là sự tăng giá của chè, cà phê, quả tươi, gia vị và sữa. Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình cũng tăng nhẹ 0,11%.

Ba nhóm còn lại ghi nhận điều chỉnh giảm là nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (giảm 0,87%) do tính chất mùa vụ làm du lịch trong và ngoài nước, cũng như dịch vụ lưu trú đi xuống. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,18% nhờ sự hạ nhiệt của các thiết bị công nghệ (như điện thoại, máy tính bảng, ti vi màu và dịch vụ viễn thông). Cuối cùng, nhóm may mặc, mũ nón và giày dép ghi nhận mức giảm khiêm tốn 0,06%.

(Nguồn: Cục Thống kê)

Thị trường ngoại hối ổn định

Nhìn lại hành trình mười tháng của năm 2026, CPI bình quân đã tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Phân tách rổ hàng hóa, bà Thu Oanh cho biết nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 4,61%) là tác nhân lớn nhất khiến CPI chung tăng 1,65 điểm phần trăm. Kế đến là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 6,66%) tác động làm tăng 1,51 điểm phần trăm. Nhóm giao thông tăng 6,98%, trong đó riêng giá nhiên liệu tăng vọt 13,09%, đã góp phần đẩy CPI chung lên 0,70 điểm phần trăm. Các nhóm hàng hóa khác từ giáo dục, y tế đến văn hóa giải trí đều duy trì đà tăng trong khoảng từ 0,12% đến 4,72%.

Bóc tách các nhóm ngành có yếu tố mang tính chu kỳ và dễ biến động mạnh, như lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và các mặt hàng do Nhà nước quản lý (dịch vụ y tế, giáo dục), chỉ số lạm phát cơ bản tháng Mười năm 2026 đã ghi nhận mức giảm nhẹ 0,05% so với tháng Chín, nhưng vẫn tăng 4,04% so với cùng kỳ. Tính bình quân mười tháng, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Theo bà Oanh, mức tăng này thấp hơn so với mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, cho việc biến động chủ yếu của lạm phát thời gian qua đến từ các mặt hàng thiết yếu (như xăng dầu, gas và lương thực thực phẩm tươi sống).

Chỉ số giá vàng trong nước tháng Mười giảm 2,85% so với tháng trước, giảm 2,94% so với cùng kỳ và giảm 6,77% so với cuối năm 2025. (Ảnh: Vietnam+)

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô toàn cầu có nhiều biến số, thị trường kim loại quý và ngoại hối tại Việt Nam thể hiện sự tương đồng với thế giới, nhưng vẫn giữ được sự chủ động. Cụ thể, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 28/10, bình quân giá vàng thế giới tháng Mười lùi về mức 4.137,85 USD/ounce, tương đương mức giảm 6,69% so với tháng trước. Sự chững lại này bắt nguồn từ việc đồng USD mạnh lên, lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao. Song song đó, thị trường quốc tế gia tăng kỳ vọng vào việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, dẫn đến áp lực bán chốt lời từ các nhà đầu tư lớn. Cộng hưởng từ thế giới, chỉ số giá vàng trong nước tháng Mười giảm 2,85% so với tháng trước, giảm 2,94% so với cùng kỳ và giảm 6,77% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, nếu xét bình quân mười tháng, kênh đầu tư này vẫn giữ mức tăng ấn tượng 37,28% so với cùng kỳ năm trước.

Trái ngược với đà giảm của vàng, thị trường ngoại tệ lại chứng kiến sự phân kỳ giữa quốc tế và nội địa. Chỉ số giá USD bình quân trên thị trường quốc tế tháng Mười (tính đến 28/10) đạt 101,88 điểm, tăng 2,39 điểm so với tháng Chín trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ cao và kỳ vọng chính sách tiền tệ khắt khe từ Fed. Tuy nhiên, giá USD trong nước lại biến động ngược chiều khi chỉ số giá tháng Mười giảm 0,26% so với tháng trước, giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2025 và hạ 1,32% so với thời điểm tháng 12/2025. Bà Oanh phân tích có được kết quả này phần lớn nhờ vào nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối dồi dào, kết hợp với các bước điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt và nhạy bén của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Dù vậy, bình quân mười tháng, chỉ số giá USD trong nước vẫn ghi nhận mức tăng nhẹ 0,78% so với cùng kỳ, phản ánh đúng nguyên tắc thị trường nhưng vẫn đảm bảo các cân đối vĩ mô quốc gia.

Tổng thể, bức tranh giá cả tháng Mười và mười tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế đang phải đối mặt với áp lực chi phí đẩy từ giá năng lượng và nguyên vật liệu toàn cầu. Tuy nhiên, nhờ sự điều tiết hợp lý từ nguồn cung nông sản nội địa và các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, mức lạm phát vẫn đang được giữ trong giới hạn kiểm soát, tạo tiền đề duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định./.

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục