Với hơn 150.000 vườn và trang trại, Đà Nẵng có dư địa lớn để phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn và đa giá trị.
Thay vì chỉ tập trung vào sản lượng, mô hình kinh tế vườn đang được định hướng gắn với chế biến, du lịch sinh thái, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, qua đó nâng cao giá trị trên cùng đơn vị diện tích, tạo thêm sinh kế cho khu vực nông thôn.
Khai thác giá trị từ hệ sinh thái vườn
Phát triển kinh tế vườn theo hướng sinh thái, tuần hoàn và đa giá trị đang mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp Đà Nẵng.
Với quy mô hơn 150.000 vườn và trang trại, thành phố có điều kiện hình thành những vùng sản xuất gắn với đặc điểm sinh thái, cây trồng, vật nuôi và lợi thế riêng của từng địa phương.
Bên cạnh cây trồng chủ lực, người dân có thể kết hợp chăn nuôi, cây dược liệu, chế biến nông sản, tận dụng phụ phẩm, phát triển sản phẩm đặc trưng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm, du lịch sinh thái. Mục tiêu là tạo ra nhiều nguồn thu, đồng thời sử dụng hiệu quả đất đai, nguồn nước, lao động và các nguồn tài nguyên tại chỗ.
Tiên Phước là một ví dụ rõ nét cho hướng phát triển này. Xã có diện tích tự nhiên gần 75km2, trong đó gần 6.600ha đất nông nghiệp với 1.317 vườn. Với địa hình bán sơn địa, hệ sinh thái đa dạng và phương thức canh tác “đa cây, đa con, đa tầng,” địa phương phát triển nhiều loại cây trồng đặc sản như măng cụt, lòn bon, cau, bưởi da xanh, sầu riêng, cam giấy Tiên Hà và hồ tiêu.
Đến tháng 9/2026, diện tích kinh tế vườn của xã đạt hơn 1.768ha, thu nhập bình quân 170 triệu đồng/ha, đóng góp 42% giá trị sản xuất nông nghiệp địa phương.
Cùng với cây ăn quả, Tiên Phước còn có các loại dược liệu có giá trị như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, ba kích. Hồ tiêu Tiên Phước được cấp Chỉ dẫn địa lý năm 2026, tạo thêm cơ sở để nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường.
Một số mô hình cho thấy khả năng tạo giá trị từ cách tổ chức sản xuất đa dạng như vườn măng cụt của ông Thái Nguyên Khoa có thu nhập trên 300 triệu đồng/năm; vườn tiêu của ông Nguyễn Thế Giới có lợi nhuận 125 triệu đồng/năm; mô hình nuôi chồn hương của ông Nguyễn Tư cho thu nhập trên 100 triệu đồng/năm.
Những mô hình này cho thấy kinh tế vườn có thể được phát triển theo hướng không chỉ dựa vào một loại sản phẩm, mà kết hợp nhiều hoạt động để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập.
Từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp
Để phát triển kinh tế vườn theo hướng bền vững, Đà Nẵng từng bước hình thành các vùng sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên và lợi thế của từng địa bàn. Trong đó, sản phẩm chủ lực được tổ chức theo chuỗi từ giống, vùng nguyên liệu, chăm sóc, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ.
Một trong những yêu cầu quan trọng là xây dựng vùng nguyên liệu ổn định. Việc lựa chọn cây giống phù hợp, sử dụng vật tư, phân bón, chế phẩm sinh học và các giải pháp kỹ thuật theo quy trình thống nhất sẽ giúp kiểm soát chất lượng ngay từ đầu vào.
Cùng với đó, việc tăng đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất và sơ chế, nhất là những khâu đòi hỏi nhiều lao động. Cơ giới hóa phù hợp với quy mô từng vùng sẽ giúp giảm chi phí, nâng năng suất và hạn chế tổn thất sau thu hoạch.
Phụ phẩm từ cây trồng có thể được tận dụng làm phân hữu cơ, nguyên liệu sản xuất hoặc phục vụ chăn nuôi; chất thải chăn nuôi được xử lý để quay trở lại phục vụ sản xuất. Qua đó, giảm lượng chất thải ra môi trường, đồng thời giảm chi phí đầu vào cho nhà vườn.
Đà Nẵng cũng có thể phát triển các mô hình vườn gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm nông nghiệp. Những khu vườn có cảnh quan đẹp, cây trồng đặc sản hoặc gắn với văn hóa bản địa có thể trở thành điểm tham quan, trải nghiệm mùa vụ, thưởng thức nông sản và mua sản phẩm tại chỗ.
Cách làm này giúp kéo dài chuỗi giá trị của nông sản. Một sản phẩm thay vì chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu có thể tạo thêm giá trị thông qua chế biến, đóng gói, trải nghiệm du lịch và bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
Đây cũng là cơ sở để từng bước chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp,” lấy hiệu quả, giá trị gia tăng và thị trường làm trọng tâm.
Chuyển đổi số, nâng giá trị và mở rộng thị trường
Cùng với tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi số là một trong những công cụ để kết nối các nhà vườn với thị trường.
Từ đầu năm 2026, Đà Nẵng đã hỗ trợ chuyển đổi số cho hơn 124.000 hộ kinh doanh.
Sau 3 tháng, có 25.000 hộ ứng dụng thực chất các giải pháp công nghệ, đưa sản phẩm OCOP và đặc sản lên các sàn thương mại điện tử.
Ngoài ra, nhật ký sản xuất điện tử, ghi nhận toàn bộ quá trình từ cây giống, vật tư, chế phẩm, chăm sóc đến thu hoạch, sẽ tạo điều kiện truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu của các hệ thống phân phối.
Cùng với đó, các nền tảng quản trị có thể giúp nhà vườn theo dõi năng suất, chi phí, doanh thu, mùa vụ và hiệu quả từng loại cây trồng.
Đối với thị trường, cần hình thành hệ thống kết nối giữa nhà vườn, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, đơn vị phân phối, nhà hàng, khách sạn và các nền tảng thương mại điện tử.
Các sản phẩm đặc trưng được chuẩn hóa về chất lượng, bao bì, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc sẽ có thêm cơ hội tiếp cận thị trường rộng hơn.
Việc đầu tư bao bì, nhận diện thương hiệu, biển chỉ dẫn tại vùng sản xuất, điểm trải nghiệm và các không gian giới thiệu sản phẩm cũng cần được xem là một phần của quá trình phát triển kinh tế vườn.
Khi sản phẩm có câu chuyện, nguồn gốc rõ ràng và nhận diện thống nhất, giá trị nông sản có thể được nâng lên thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.
Mỗi vùng cần được xác định sản phẩm chủ lực, lợi thế sinh thái và khả năng kết nối thị trường; trên cơ sở đó xây dựng chuỗi giá trị riêng, đồng thời kết nối với hệ thống phân phối chung của thành phố.
Với hơn 150.000 vườn và trang trại, việc chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang các mô hình sinh thái, tuần hoàn và đa giá trị sẽ tạo thêm không gian tăng trưởng cho nông nghiệp Đà Nẵng.
Khi vùng nguyên liệu, công nghệ, chế biến, thương hiệu, du lịch và thị trường được kết nối, giá trị tạo ra từ mỗi khu vườn sẽ không chỉ nằm ở sản lượng nông sản mà được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác./.
Đà Nẵng đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt 40% GRDP
Cùng với mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số đạt 35-40% GRDP, Đà Nẵng phấn đấu tối thiểu 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận chương trình hỗ trợ chuyển đổi số.