Công tác lập pháp của Quốc hội là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được khẳng định trong Hiến pháp, cụ thể: Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật.
Với trách nhiệm cao cả, lớn lao và vinh dự đó, trong bối cảnh mới, Quốc hội tập trung đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, tiến tới xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng, tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ hiệu quả công tác quản lý đất nước; đồng thời, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt về thể chế để cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Năm 2025, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, phát huy vai trò trong việc hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các "điểm nghẽn", khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Hoạt động giám sát cũng được cải tiến, có trọng tâm, trọng điểm, đi vào thực chất, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, nhất là trong khoảng một năm trở lại đây, Quốc hội đã thực sự thể hiện là một Quốc hội hành động, phản ứng mau lẹ trước yêu cầu của thực tiễn.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy và quy trình lập pháp
Theo Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, trong bối cảnh nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với Quốc hội là phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy, tầm nhìn và phương thức hoạt động.
Quốc hội không chỉ đảm nhiệm 3 chức năng hiến định là lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước mà còn phải thực sự trở thành biểu tượng của trí tuệ chính trị Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng và niềm tin của nhân dân đối với Tổ quốc.
Quốc hội khóa XV đã thực hiện một bước đột phá về tư duy lập pháp, loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm", đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, tăng tính linh hoạt và khả thi trong quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực.
Công tác lập pháp của Quốc hội đã có những đổi mới mạnh mẽ, chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", không chỉ giải quyết các vấn đề cấp bách trước mắt mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần hoàn thiện thể chế, pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến và quyết định khối lượng công việc rất lớn, có ý nghĩa lịch sử, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hoàn thiện thể chế và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, vừa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn, vừa kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho giai đoạn mới.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021-2026) là nhiệm kỳ đặc biệt, có khối lượng lập pháp tăng gấp nhiều lần so với các nhiệm kỳ trước, với nhiều nội dung hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ. Với 19 Kỳ họp - nhiều nhất trong các khóa Quốc hội đã thể hiện tinh thần “Quốc hội họp mỗi khi Nhân dân cần, đất nước cần”. Đặc biệt, Quốc hội đã chủ động đổi mới tư duy xây dựng luật, hoàn thành khối lượng công tác lập pháp kỷ lục với 150 luật, 49 nghị quyết quy phạm pháp luật được thông qua.
Trong năm 2025, thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Quốc hội đã có bước tiến lớn trong đổi mới mạnh mẽ về tư duy và quy trình lập pháp.
Riêng Kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua 34 luật và 14 nghị quyết quy phạm pháp luật; đến Kỳ họp thứ 10, Quốc hội tiếp tục lập dấu mốc lịch sử khi xem xét, thông qua 51 luật và 8 nghị quyết quy phạm pháp luật, chiếm gần 30% tổng số luật, nghị quyết quy phạm được ban hành của cả nhiệm kỳ, là minh chứng sinh động cho tinh thần pháp luật phải đi trước một bước, mở đường cho đổi mới sáng tạo, lấy cuộc sống và lợi ích của nhân dân làm thước đo của chính sách.
Các luật này bao quát hầu hết các lĩnh vực trọng yếu, nhiều vấn đề mới, biến động liên tục; kịp thời thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết mới của Đảng, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, năng lượng, văn hóa-xã hội, y tế-giáo dục, tài nguyên- môi trường, khoa học-công nghệ; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; quốc phòng-an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế; lành mạnh hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản.
Tinh thần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật tiếp tục được thể hiện rõ nét khi các luật chỉ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, giao quyền chủ động, linh hoạt cho Chính phủ trong tổ chức thực hiện luật; qua đó vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển.
Đặc biệt, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 9 là những quyết sách hệ trọng, có tính bước ngoặt lịch sử, góp phần tạo điều kiện để đưa tổ chức, bộ máy mới trong cả nước chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025.
Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã xem xét Báo cáo kết quả giám sát và thông qua Nghị quyết về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành, trong đó yêu cầu tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp đột phá để cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe nhân dân, an ninh môi trường, hướng tới phát triển bền vững.
Kỳ họp thứ 10 cũng tạo dấu ấn đậm nét trong công tác giám sát tối cao, khi Quốc hội tiến hành xem xét toàn diện báo cáo của Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Kiểm toán Nhà nước về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội khóa XIV, khóa XV liên quan đến giám sát chuyên đề và chất vấn.
Lần đầu tiên, Diễn đàn giám sát của Quốc hội được tổ chức thành công; cùng với việc thảo luận về kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; kết quả tiếp công dân, xử lý đơn thư và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội,... đã góp phần quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực Nhà nước, hoạt động của bộ máy Nhà nước, trách nhiệm thực thi công vụ, được cử tri, nhân dân đồng tình, đánh giá cao.
Phản ứng mau lẹ trước yêu cầu thực tiễn
Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố then chốt bảo đảm thành công của hoạt động lập hiến, lập pháp. Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật của Nhà nước, thể hiện sự đồng thuận, thống nhất cao giữa ý Đảng và lòng dân, tạo nền tảng pháp lý cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa pháp luật với thực tiễn đời sống xã hội. Quốc hội đã xem xét, thông qua số lượng rất lớn các luật, nghị quyết, với nhiều quyết sách mang tính lịch sử, phản ứng kịp thời với những tình huống mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc sống.
Các chính sách luôn lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần giải phóng sức sản xuất, huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Cụm từ “Quốc hội phản ứng nhanh” mà nhân dân nhắc đến không chỉ là sự khích lệ mà còn là tiếng gọi của thực tiễn và của lòng dân, đòi hỏi Quốc hội phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực nắm bắt tình hình, dự báo xu thế, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân lên hàng đầu.
“Phản ứng nhanh” không chỉ là hành động nhanh về thời gian, mà sâu xa hơn là phản ứng bằng tầm nhìn, bằng trí tuệ và bằng trách nhiệm chính trị cao nhất. Bởi nếu chỉ nhanh mà không trúng, không đúng thì sẽ là sự vội vàng; còn “phản ứng nhanh” của Quốc hội phải là kết tinh của trí tuệ tập thể, của dữ liệu thực tiễn, của lắng nghe xã hội và của kỷ cương pháp quyền.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội đang tiếp tục đổi mới toàn diện, nâng cao tính dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả; tăng cường phối hợp chặt chẽ với Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan trong hệ thống chính trị; đồng thời phát huy trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm của từng đại biểu Quốc hội, góp phần hoàn thiện thể chế, xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững, vì nhân dân, do nhân dân và dựa vào nhân dân.
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của Quốc hội Việt Nam trong thời gian gần đây là năng lực phản ứng nhanh, linh hoạt nhưng vẫn kỷ cương, thể hiện bản lĩnh của một Quốc hội vừa “của dân, do dân, vì dân”, vừa là trung tâm hoạch định thể chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Minh chứng điển hình đầu tiên là Nghị quyết số 30/2021/QH15, được thông qua trong thời khắc cam go nhất của đại dịch COVID-19, khi cả đất nước cần một quyết sách vừa táo bạo, vừa đúng đắn, vừa nhân văn. Chỉ trong thời gian ngắn, Quốc hội đã kịp thời ban hành nghị quyết này, trao cơ chế đặc thù, linh hoạt cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ xử lý tình huống khẩn cấp, đồng thời vẫn giữ vững nguyên tắc kiểm soát quyền lực, bảo đảm tính hợp hiến và trách nhiệm giải trình. Nghị quyết 30 không chỉ là một văn bản pháp lý, mà là một biểu tượng về bản lĩnh thể chế Việt Nam-dám hành động vì con người, dám lựa chọn giữa muôn vàn thách thức cái đúng, cái cần, cái kịp thời. Chính nhờ quyết sách đó, đất nước ta đã vượt qua giai đoạn khốc liệt nhất của đại dịch, ổn định sản xuất, phục hồi kinh tế nhanh hơn nhiều quốc gia có điều kiện tương đồng.
Minh chứng thứ hai, chính là việc triển khai chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Ngay sau khi Đảng đề ra chủ trương, các cơ quan trong hệ thống chính trị, đặc biệt là Chính phủ và Quốc hội đã lập tức vào cuộc, với tinh thần khẩn trương, quyết liệt “vừa chạy, vừa xếp hàng”.
Kết quả, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tỷ lệ đồng thuận tuyệt đối của các vị đại biểu Quốc hội. Đồng thời, nhiều luật và nghị quyết liên quan cũng được ban hành một cách đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đổi mới, sắp xếp bộ máy chính quyền địa phương hai cấp.
Minh chứng thứ ba, có ý nghĩa thể chế sâu sắc hơn, là Nghị quyết số 206/2025/QH15. Lần đầu tiên, Quốc hội đã giao quyền cho Chính phủ ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật để điều chỉnh một số quy định của luật, nghị quyết do Chính phủ trình trong thời gian luật, nghị quyết của Quốc hội chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm xử lý nhanh chóng, có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề cấp bách của thực tiễn, đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh.
Để “đi trước một bước” với những phát sinh từ thực tiễn, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng Quốc hội phải hoàn thành trọng trách tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch, thông thoáng, tính khả thi cao.
Một trong những nguyên tắc cốt lõi của hoạt động lập pháp là phải tạo ra được hệ thống pháp luật không những phản ánh kịp thời thực tiễn cuộc sống mà còn phải tạo được hành lang pháp lý cho những lĩnh vực mới, từ đó mở đường cho sáng tạo. Đồng thời, phải lường trước được những sự thay đổi quan trọng để có những quy định hợp lý giúp định hướng các quan hệ xã hội theo quy tắc, chuẩn mực chung, tránh tạo ra sự hỗn loạn hoặc trì trệ trong xã hội. Nói cách khác là phải bảo đảm được tính dự báo của pháp luật.
Điều quan trọng là Quốc hội cần có cơ sở dữ liệu lớn về lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng; về ý kiến góp ý, kiến nghị của cử tri, nhân dân thuộc mọi tầng lớp trong xã hội; kết nối với cơ sở dữ liệu lớn dùng chung của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan. Làm được như vậy, mọi ý kiến của cử tri, nhân dân đều sẽ được trí tuệ nhân tạo phân tích, đưa ra phương án xử lý tối ưu; mọi chính sách được xây dựng hay sửa đổi đều có thể được trí tuệ nhân tạo phân tích, thống kê, tính toán mức độ tác động, nhận diện xu hướng một cách khoa học hơn, toàn diện hơn, chính xác hơn mà cũng tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí...
Việc Quốc hội “phản ứng nhanh theo nhịp đập thực tiễn” đã tạo chuyển biến căn bản trong thực hiện dân chủ tại Quốc hội, làm cho dân chủ trở nên thực chất, sâu rộng và hiệu quả hơn.
Trước hết, phản ứng nhanh giúp rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống, mọi quyết định của Quốc hội đều xuất phát từ thực tiễn, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, qua đó củng cố niềm tin và sự gắn bó giữa Quốc hội với cử tri.
Thứ hai, quá trình thảo luận, lập pháp, giám sát được tiến hành dân chủ hơn, công khai, minh bạch hơn, đại biểu Quốc hội được phát huy tối đa vai trò, chính kiến và trách nhiệm, từ đó nâng cao chất lượng phản biện, quyết sách và giám sát.
Thứ ba, phản ứng nhanh đồng nghĩa với việc Quốc hội chủ động nắm bắt, dự báo và xử lý kịp thời các vấn đề lớn, mới, khó, làm cho dân chủ không dừng ở hình thức phát biểu hay thảo luận mà trở thành phương thức lãnh đạo, phương thức hành động của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Nhờ đó, hiệu quả thực hiện dân chủ tại Quốc hội được nâng lên rõ rệt, dân chủ gắn với kỷ cương, trách nhiệm, minh bạch và hiệu quả; vừa bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, vừa nâng cao năng lực điều hành, quyết sách của Quốc hội./.