Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3 (ngày 24/7), nói về “điểm nghẽn thực thi” Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV và các nghị quyết chiến lược của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra các nguyên nhân sâu xa, trong đó có tăng trưởng chưa dựa vào năng suất, nội lực.
Còn trong phiên khai mạc Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh tới bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Cụ thể, về dài hạn, Việt Nam phải chuyển từ tình trạng phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao; gắn đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
Trong một thời gian dài nền kinh tế của nước ta phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn vốn ngân hàng và xuất khẩu tài nguyên thô dẫn đến rủi ro lạm phát, áp lực ngân hàng, còn năng suất thì lại tăng chậm.
Vốn ngân hàng chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn của nền kinh tế và tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức cao, tạo áp lực lớn khi nền kinh tế cần thêm vốn trung và dài hạn. Xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản thô đóng góp lớn cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nền kinh tế của đất nước cũng phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài (FDI), gia công lắp ráp với giá trị gia tăng nội địa thấp - khoảng 30-35% - cùng lao động giá rẻ.
Sử dụng lao động giá rẻ để thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế là điều bình thường và nhiều quốc gia khác cũng làm như thế ở một giai đoạn nhất định, trong đó có Hàn Quốc và Trung Quốc.
Tuy nhiên, lao động giá rẻ chỉ nên coi là bàn đạp ban đầu, không nên kéo dài và không thể kéo dài.
Thực tế của năm 2026 ở Việt Nam đã khác xa với năm 2000. Lao động giá rẻ không còn là lợi thế cạnh tranh chủ chốt của nước ta do tiền lương trong ngành chế biến, chế tạo đã tăng gần 3 lần trong hơn một thập niên qua. Việt Nam không còn nằm trong nhóm chi phí lao động thấp nhất châu Á. Tiền lương công nhân ở nước ta đã vượt Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, Indonesia…, gần bằng Thái Lan.
Hơn nữa, lao động giá rẻ cũng không còn là ưu thế cốt lõi. Các nhà đầu tư hiện đại không chỉ nhìn vào chi phí lao động, mà đánh giá tổng năng lực sản xuất: công nghệ, năng suất lao động, kỹ năng nhân lực, hạ tầng giao thông-liên lạc, quy mô thị trường.
Sau gần 40 năm đổi mới, mô hình phát triển truyền thống của Việt Nam đã giúp nền kinh tế thay đổi mạnh mẽ. Từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam hiện có quy mô GDP đứng thứ 32 thế giới vào năm 2025, nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu.
Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng hiện nay đang bộc lộ nhiều giới hạn khi vẫn phụ thuộc lớn vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh chưa cao; năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ còn hạn chế.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và internet vạn vật phát triển mạnh mẽ, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn chỉ là động lực tăng trưởng kinh tế thuần túy, mà đã trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ chiến lược và an ninh phát triển.
Để Việt Nam thực hiện bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người, Hội nghị Trung ương 3 đã thông qua Nghị quyết về Đề án đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đề án này được coi là sự đổi mới rất lớn, chưa có tiền lệ, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển của đất nước đến năm 2045 và xa hơn.
Nghị quyết khẳng định tư tưởng phát triển cốt lõi của Việt Nam trong kỷ nguyên mới là xây dựng khả năng tự thích ứng của quốc gia, năng lực nhận thức trước những thay đổi mang tính thời đại.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta khi xây dựng Nghị quyết là xã hội phải phát triển theo hướng sáng tạo, bao trùm và văn minh; nâng cao năng lực thích ứng và chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động trong kỷ nguyên số.
Mục tiêu của mô hình phát triển mới là tạo bước chuyển căn bản về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo, sức cạnh tranh quốc gia, năng lực tự chủ của nền kinh tế và chất lượng sống của nhân dân; đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, xã hội tiến bộ, văn minh.
Các chỉ tiêu mang tính toàn diện nhưng chọn lọc, trong đó có một số chỉ tiêu chủ yếu là chất lượng, số lượng tăng trưởng và năng suất.
Mô hình phát triển mới gồm 9 nội dung trọng yếu, trong đó có khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu là hạ tầng nền tảng của giai đoạn phát triển mới; thiết kế lại chính sách công nghiệp quốc gia theo hướng lựa chọn một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, lan tỏa công nghệ và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Chúng ta cần ưu tiên cho công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, dữ liệu, công nghiệp vật liệu, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghiệp quốc phòng-an ninh lưỡng dụng, logistics, tài chính hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp văn hóa.
Trong mô hình phát triển mới, chúng ta phải khắc phục được điểm hạn chế bấy lâu nay là khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam chưa thực sự chuyển hóa mạnh mẽ thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.
Chúng ta không tự chủ được thị trường công nghệ bởi khoảng 85% giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ là do các doanh nghiệp nước ngoài mang lại, tỷ lệ thương mại hóa các nghiên cứu ở trong nước còn rất thấp.
Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển gắn chặt với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu biến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực chính để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cụ thể, phải đưa khoa học-công nghệ vào mọi ngành kinh tế để tăng năng suất lao động; thúc đẩy sản phẩm công nghệ, kinh tế số và đổi mới sáng tạo thay vì dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ; tăng sức cạnh tranh bằng cách xây dựng hạ tầng số, dữ liệu và phát triển các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn./.
Bốn bước chuyển từ Hội nghị Trung ương 3: Quản trị thống nhất tạo nên sức mạnh