Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW là việc phát huy các nguồn lực chiến lược của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp.
Thay vì chủ yếu vận động, thu hút các cá nhân riêng lẻ, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài.
Đối với nhiều người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết 23 như một lời hiệu triệu, làm nức lòng những người con xa quê, thổi bùng khát vọng đóng góp cho quê hương trong thời đại mới bằng những việc làm rất cụ thể.
Biến chủ trương thành con đường thu hút kiều bào về Tổ quốc
Ông Trần Phú Thuận, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các tổ chức người Việt tại Liên bang Nga cho rằng những chủ trương mới của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài thể hiện một bước phát triển rất quan trọng trong tư duy về công tác kiều bào.
Điều ông đặc biệt tâm đắc là chủ trương không chỉ dừng ở việc chăm lo, hỗ trợ cộng đồng mà đã hướng đến việc xem kiều bào là nguồn lực chiến lược quan trọng, tạo điều kiện để kiều bào ổn định cuộc sống, có vị thế vững chắc tại nước sở tại và phát huy tốt hơn nguồn lực của mình để đóng góp cho quê hương, đất nước.
Là người được cử sang học tập tại Liên Xô (cũ), ông Trần Phú Thuận kể rằng những ngày tháng sinh sống nơi xứ sở bạch dương lạnh giá, ông được sưởi ấm bởi tình cảm của những con người có chung nguồn cội.
“Tôi vẫn nhớ cảm giác những ngày đầu bước vào giảng đường. Mọi thứ đều mới mẻ, bài giảng bằng tiếng Nga, tốc độ học tập khá cao. Có những buổi học nghe chưa hiểu hết nhưng vẫn phải tự nhủ rằng mình được sang đây để học tập, để sau này trở về đóng góp cho đất nước. Chính suy nghĩ đó đã giúp tôi vượt qua những lúc nản lòng,” ông Trần Phú Thuận tâm sự.
Từ trải nghiệm sinh sống tại Nga, ông Thuận kỳ vọng vào việc tạo dựng một môi trường ngày càng thông thoáng, minh bạch và thuận lợi để kiều bào có thể trở về Việt Nam đầu tư, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, đóng góp tri thức, kết nối thị trường và xây dựng các dự án hợp tác.
“Từ thực tế cộng đồng người Việt tại Nga, tôi nhận thấy bà con luôn có tình cảm sâu sắc với quê hương và mong muốn được đóng góp. Điều chúng tôi mong muốn là có cơ chế rõ ràng, thủ tục thuận lợi và môi trường thực sự minh bạch để những mong muốn đó có thể trở thành những đóng góp cụ thể,” ông Thuận nói.
Cụ thể, ông Thuận cho rằng cần tiếp tục rà soát và đơn giản hóa các thủ tục hành chính đối với kiều bào, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc tịch, hộ tịch, giấy tờ tùy thân, đầu tư, kinh doanh, đất đai, tài sản và các thủ tục khi bà con về nước sinh sống, làm việc hoặc đầu tư.
Cùng với đó, cần xây dựng một cơ chế thông tin và hỗ trợ thống nhất, minh bạch, để kiều bào ở nước ngoài có thể dễ dàng biết mình được hưởng quyền lợi gì, cần thực hiện thủ tục ở đâu và liên hệ với cơ quan nào. Nếu có thể đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến, tăng khả năng xử lý hồ sơ từ xa thì sẽ giảm rất nhiều thời gian và chi phí cho bà con.
“Tôi mong muốn có những cơ chế thuận lợi hơn để thu hút nguồn lực của kiều bào. Chúng ta không chỉ thu hút vốn mà còn phải thu hút chất xám, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và mạng lưới quan hệ quốc tế của người Việt Nam ở nước ngoài. Đặc biệt, cần có đầu mối đủ chuyên nghiệp để hỗ trợ một doanh nhân, một chuyên gia hay một nhà đầu tư kiều bào từ lúc tìm hiểu cơ hội cho đến khi triển khai công việc tại Việt Nam,” ông Thuận nhấn mạnh.
Ông Thuận tin rằng khi chính sách đúng được triển khai bằng những thủ tục thuận lợi, tinh thần phục vụ và cơ chế phối hợp đồng bộ, Nghị quyết 23 sẽ tạo được một bước chuyển rất mạnh trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Khi đó, tình cảm hướng về quê hương của kiều bào sẽ có thêm những “con đường” cụ thể để biến thành những đóng góp thiết thực cho đất nước.
“Kiều bào từng được nói nhiều như những cầu nối giữa Việt Nam và thế giới. Nhưng cầu nối chỉ là một điểm trên hành trình. Khi những cây cầu được kết nối thành mạng lưới, chúng có thể tạo nên một hạ tầng xã hội mới – nơi Việt Nam hiện diện trong đời sống quốc tế bằng chính tri thức, uy tín, văn hóa và những quan hệ mà cộng đồng đã gây dựng,” ông Thuận khẳng định.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, Chánh Văn phòng Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch thường trực Mạng lưới chuyên gia dữ liệu toàn cầu (VDEN), nhấn mạnh vai trò của việc quy tụ đội ngũ chuyên gia người Việt ở nước ngoài - những người có thể mang về kinh nghiệm và phương pháp, công cụ phù hợp để khai thác hiệu quả nguồn dữ liệu lớn mà Việt Nam đang sở hữu.
Để thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia người Việt ở nước ngoài, bà Nguyễn Thị Ngọc Dung cho rằng Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái toàn diện.
Theo đó, bên cạnh máy móc, đường truyền Internet, siêu máy tính và các điều kiện vật chất phục vụ nghiên cứu, các chuyên gia Việt kiều còn quan tâm đến chất lượng môi trường sống, điều kiện làm việc và khả năng phát huy năng lực chuyên môn.
Quan trọng hơn, khuôn khổ chính sách cần tạo điều kiện để các chuyên gia được tự do sáng tạo, tương đương với môi trường nghiên cứu và làm việc ở nước ngoài mà họ từng trải qua.
Bà Dung cho rằng việc hình thành các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt toàn cầu không chỉ là câu chuyện tập hợp nhân lực. Đây còn là yêu cầu xây dựng cơ chế để kết nối nguồn lực trí tuệ với những bài toán cụ thể của đất nước, từ nghiên cứu, đào tạo, tư vấn chính sách đến chuyển giao công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường.
Lập ‘bản đồ số’ định danh nguồn lực kiều bào
Đánh giá vai trò của trong sự nghiệp phát triển đất nước, Tiến sỹ Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HANOISME) nhận định 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn lực đặc biệt, không chỉ về kiều hối, vốn đầu tư hay quan hệ thị trường, mà còn về tri thức, công nghệ, quản trị, mạng lưới và uy tín quốc tế.
Để kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực kiều bào, ông Mạc Quốc Anh đề nghị Nhà nước có cơ chế cụ thể, chẳng hạn như xây dựng một cơ sở dữ liệu hoặc “bản đồ nhân tài” người Việt Nam toàn cầu theo lĩnh vực như: Công nghệ số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), y sinh, tài chính, năng lượng, giáo dục, logistics, quản trị đô thị, thương mại quốc tế, pháp lý quốc tế.
Khi đã có “bản đồ nhân tài,” Nhà nước, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước có thể đặt hàng cụ thể: Cần chuyên gia tư vấn chiến lược bán dẫn, cần chuyên gia chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần chuyên gia hỗ trợ xuất khẩu vào Liên minh châu Âu (EU), cần chuyên gia về tiêu chuẩn xanh, cần chuyên gia gọi vốn quốc tế... Khi có một bài toán rõ ràng, người tài sẽ tìm được lời giải.
Kiều bào trí thức là ‘nguồn lực mềm’ nhưng có thể tạo ra ‘sức mạnh cứng’ cho quốc gia bằng cách cung cấp công nghệ mới, thị trường mới, chuẩn mực mới, vốn mới và vị thế mới cho Việt Nam.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp từ xa, tư vấn theo dự án, làm cố vấn chiến lược, tham gia hội đồng khoa học, giảng dạy ngắn hạn, kết nối đầu tư, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm hoặc bảo trợ các chương trình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
“Tôi cho rằng kiều bào trí thức là ‘nguồn lực mềm’ nhưng có thể tạo ra ‘sức mạnh cứng’ cho quốc gia bằng cách cung cấp công nghệ mới, thị trường mới, chuẩn mực mới, vốn mới và vị thế mới cho Việt Nam,” Tiến sỹ Mạc Quốc Anh khẳng định.
Ông Nguyễn Phúc Bình, Chủ tịch Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam tại Australia, cho rằng giá trị của một mạng lưới chuyên gia không nằm ở độ dài của danh sách thành viên. Một mạng lưới chỉ 100 người nhưng có thể huy động được 30 người cùng giải quyết những bài toán cụ thể có thể có giá trị hơn rất nhiều một danh sách hàng nghìn người nhưng không tạo được hoạt động thực chất. Vì vậy, việc xây dựng mạng lưới chuyên gia không nên chạy theo số lượng mà phải tìm được đúng người.
Từ đó, ông Bình đề xuất mở rộng các chương trình nghiên cứu chung giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế trong những công nghệ chiến lược. Qua đó, các nhà khoa học người Việt ở nước ngoài cũng có thể đóng góp thiết thực cho quê hương.
Chia sẻ giải pháp về vấn đề này, Tiến sỹ Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội chuyên gia, trí thức Việt Nam-Hàn Quốc cho rằng ngành Ngoại giao cần tiếp tục xây dựng các cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các bộ, ngành, địa phương và các hiệp hội kiều bào.
“Chúng tôi không chỉ có tình cảm hướng về quê hương mà còn có tri thức, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới đối tác quốc tế và khả năng kết nối với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới, để góp sức cho công cuộc phát triển đất nước trong kỷ nguyên khoa học-công nghệ,” ông Trần Hải Linh nói.
Từ kinh nghiệm tại Hàn Quốc, ông Trần Hải Linh khẳng định nếu có một cơ chế kết nối thường xuyên, bài bản và có định hướng rõ ràng, nguồn lực của kiều bào sẽ được phát huy hiệu quả hơn rất nhiều. Bởi lẽ, cơ chế kết nối ấy sẽ tạo nên một hệ sinh thái hợp tác đủ mạnh, nơi có sự đồng hành của các cơ quan quản lý, các địa phương, doanh nghiệp trong nước và cộng đồng kiều bào./.