Ở Đức, nơi hàng trăm ngôn ngữ cùng tồn tại, có những lớp học nhỏ vẫn đều đặn mỗi cuối tuần. Ở đó, tiếng Việt không chỉ được dạy, mà được giữ gìn, được truyền lại và được sống cùng văn hóa gia đình Việt.
Và ở đó, có những “người vác tù và hàng tổng” lặng lẽ gìn giữ từng con chữ như gìn giữ chính căn cước của một cộng đồng, đang được đánh giá ngày càng đẹp hơn trong mắt bạn bè quốc tế.
Đối với lớp học của cô giáo Nguyễn Thu Loan tại Trung tâm đa văn hóa AWO, Berlin, thành công lớn nhất là số học sinh tăng lên từng ngày. Từ ngày đầu mở lớp chỉ có khoảng 10 học sinh, cho đến nay, có thời điểm lớp học nhỏ có đến gần 80 học sinh chen kín, buộc cô Loan phải chia lớp thành 3 ca học trong cùng một ngày Chủ nhật.
Và suốt 17 năm qua, hàng nghìn học sinh đã đi qua lớp học ấy. Và đặc biệt, số học sinh xin học luôn nhiều hơn số phải chia tay. Cô Loan trải lòng: “Có những em học suốt 5, 6 năm vẫn không muốn nghỉ. Nhưng lớp đông quá, tôi buộc phải động viên các em đã có vốn tiếng Việt tốt nhường chỗ cho các bạn mới.”
Nhưng phía sau lớp học đông vui ấy là một nỗi trăn trở lớn. Hiện tại, trường tiếng Việt AWO gần như chỉ có một mình cô Loan đứng lớp. Từ soạn giáo án, giảng dạy, quản lý học sinh đến tổ chức các ngày hội, tất cả đều do cô đảm nhiệm. Số học sinh đã vượt quá khả năng của một giáo viên. Nhiều phụ huynh gọi điện xin cho con học, cô chỉ biết hẹn chờ.
Cô Loan chia sẻ: “Tôi rất buồn khi phải từ chối. Nhưng nếu nhận thêm, tôi không thể đảm bảo chất lượng và sức khỏe để dạy thêm vì đã có 3 ca học liên tục trong ngày Chủ nhật. Tôi mong có thêm nhiều hội đoàn, nhiều lớp tiếng Việt hơn cho con em người Việt ở Berlin.”
Điều khiến cô lo lắng nhất là tương lai của lớp học: “Nếu một ngày tôi nghỉ, tôi rất mong sẽ có một tổ chức đứng ra tiếp nối, để lớp học không phải đóng cửa.”
Nỗi lo ấy không chỉ là câu chuyện riêng của cô Loan. Đó cũng là trăn trở chung của nhiều lớp học tiếng Việt cộng đồng ở Đức: làm thế nào để những mô hình được dựng lên bằng tâm huyết cá nhân có thể tồn tại lâu dài và được trao truyền cho thế hệ tiếp theo.
Cô Lan, một trong những giáo viên đầu tiên tham gia giảng dạy tại lớp tiếng Việt ở Frankfurt chia sẻ: “Được mời dạy lớp tiếng Việt lần đầu tiên tại Frankfurt, thực sự tôi rất vui. Qua bài học, tôi có thể giúp các em biết thêm về đất nước, về văn hóa Việt. Tiếng Việt chính là ngôn ngữ kết nối các em với gia đình, với ông bà, cha mẹ.”
Tuy nhiên, niềm vui của cô Lan đi kèm với một nỗi lo thường trực, đó là lớp học chỉ có mỗi tuần một buổi, quá ít để tạo nên sự thành thạo ngôn ngữ. Cô tâm sự: “Chúng tôi mong muốn có thể đi một con đường dài cùng các con, được đồng hành với tuổi thơ của các con. Nhưng nếu chỉ học trên lớp thôi thì không đủ. Bố mẹ chính là người thầy đầu tiên và lâu dài nhất của các con”.
Tuy nhiên, giữ được lớp học đã khó, giữ được động lực học cho trẻ và sự đồng hành của phụ huynh còn khó hơn nhiều. Thực tế tại Frankfurt cho thấy, phần lớn học sinh sử dụng tiếng Đức là ngôn ngữ chính. Nhiều em đến lớp mà không biết một từ tiếng Việt nào.
Cô bày tỏ: “Lớp của chúng tôi dành cho các bé 5-8 tuổi. Các con gần như bắt đầu từ số 0, nên rất khó. Chúng tôi phải vừa dạy vừa chơi, dùng tranh ảnh, bài hát để tạo hứng thú, đồng thời khuyến khích bố mẹ giao tiếp với con bằng tiếng Việt ở nhà.”
Những giờ học cuối tuần vì thế không chỉ là dạy chữ, mà còn là quá trình “kéo” các em trở lại với ngôn ngữ của gia đình. Để làm được điều đó, các giáo viên phải linh hoạt đưa trò chơi, hoạt động tương tác vào giờ học, phù hợp với tâm lý trẻ sinh ra ở nước ngoài.
Phương pháp vừa học vừa chơi giúp tiếng Việt trở nên thân thiện, không còn là “ngôn ngữ của nghĩa vụ,” mà là ngôn ngữ của niềm vui.
Cô Hương, người có hơn 5 năm dạy tiếng Việt tại Frankfurt bày tỏ: “Đội ngũ giáo viên tại Frankfurt hiện là sự kết hợp những thầy cô có kinh nghiệm giảng dạy, cùng các sinh viên trẻ nhiệt huyết. Trước khi đứng lớp, họ đã được tham gia các khóa đào tạo trực tuyến bài bản do Trường Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, trang bị phương pháp sư phạm và kiến thức chuyên môn.”
Về giáo trình, các giáo viên lựa chọn bộ sách “Tiếng Việt” và “Vở bài tập Tiếng Việt” do thầy Bùi Mạnh Hùng chủ biên, kết hợp thêm sách “Chào Tiếng Việt” của nhà văn Nguyễn Thụy Anh, những tài liệu được đánh giá là gần gũi, sinh động, phù hợp với trẻ em sinh ra và lớn lên trong môi trường song ngữ. Bên cạnh sách vở, lớp học còn kết hợp nhiều trò chơi, hoạt động trải nghiệm để các em vừa học vừa chơi, giúp tiếng Việt trở nên thân thiện, bớt khó trong cảm nhận của trẻ.
Nhưng cô giáo Hương cũng thẳng thắn: “Tổ chức một lớp học đã khó, nhưng duy trì được lớp học còn khó hơn nhiều. Thiếu địa điểm, thiếu kinh phí, thiếu giáo viên ổn định và phụ thuộc lớn vào lực lượng tình nguyện, đó là những thách thức thường trực.”
Những khó khăn đó cho thấy, tình yêu tiếng Việt là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Để các lớp học cộng đồng có thể phát triển bền vững, cần một hành lang chính sách, sự hỗ trợ về chuyên môn và sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức.
Trước khi được Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Frankfurt bảo trợ, nhiều lớp tiếng Việt do hội đoàn cộng đồng tổ chức từng phải giải tán khi gặp khó khăn trong duy trì lâu dài.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phần lớn những người thành thạo tiếng Việt trong cộng đồng kiều bào đang già đi, trong khi đội ngũ giáo viên tình nguyện còn thiếu đào tạo sư phạm bài bản, khiến nguy cơ mai một ngôn ngữ trong cộng đồng là không tránh khỏi.
Thực tế ấy cho thấy một khoảng trống lớn: cộng đồng có nhu cầu, có giáo viên tâm huyết, nhưng nếu thiếu địa điểm, giáo trình, kinh phí và cơ chế hỗ trợ ổn định, những lớp học dễ phụ thuộc vào sức bền của một vài cá nhân.
Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 14/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài.” Đề án hướng tới việc tiếp tục đẩy mạnh dạy và học tiếng Việt cho các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần giữ gìn, củng cố và phát triển ngôn ngữ, bản sắc văn hóa dân tộc, khơi dậy tinh thần hướng về quê hương, đất nước và quảng bá tiếng Việt, văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.
Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng hệ thống giáo trình, tài liệu và chương trình bồi dưỡng giáo viên, tạo hành lang pháp lý cho việc dạy và giữ gìn tiếng Việt ở nước ngoài.
Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 28/2018/TT-BGDĐT về Chương trình tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, áp dụng cho các cơ sở giáo dục dạy tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Từ góc độ chính sách, những văn bản này tạo ra một nền tảng quan trọng. Nhưng chính sách chỉ thực sự có sức sống khi được hiện thực hóa trong những lớp học nhỏ giữa cộng đồng, nơi mỗi con chữ được giữ lại bằng công sức của những người thầy nhiều khi không có thù lao.
Một năm sau khi khóa học đầu tiên khai giảng tháng 11/2024, lớp tiếng Việt tại Frankfurt đã phát triển thành 3 lớp học với gần 60 học sinh, từ 5 đến 17 tuổi.
Đây là khóa học đầu tiên do Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Frankfurt am Main, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Lãnh sự Lưu Xuân Đồng, phối hợp với các hội đoàn người Việt tổ chức dành cho con em người Việt và gốc Việt tại Frankfurt và vùng phụ cận.
Tổng Lãnh sự Lưu Xuân Đồng cho biết: “Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn quan tâm và mong muốn đẩy mạnh việc học tiếng Việt cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, qua đó góp phần duy trì và phát triển truyền thống văn hóa Việt Nam.”
Theo ông, đây không chỉ là một sáng kiến của cộng đồng, mà là một định hướng chiến lược trong chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Tổng Lãnh sự Lưu Xuân Đồng tâm sự: “Chúng tôi phải làm sao để các cháu thấy việc học tiếng Việt không phải là gánh nặng, mà là một niềm vui và sự tự hào về nguồn cội.”
Để giải quyết bài toán này, Tổng Lãnh sự quán đã phối hợp với Đại học Ngoại ngữ Hà Nội tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên, xây dựng bộ sách riêng phù hợp với trẻ em Việt tại Đức. Đến nay, hơn 10 giáo viên và trợ giảng đã sẵn sàng cho kế hoạch mở rộng.
Từ Frankfurt, Tổng Lãnh sự quán bày tỏ mong muốn sẽ nhân rộng mô hình ra các thành phố lớn như Berlin, Hamburg, Leipzig, Munich, Stuttgart, Mainz, tiến tới hình thành một mạng lưới dạy tiếng Việt thống nhất trên toàn nước Đức trong giai đoạn 2025-2030.
Mục tiêu dài hạn là đưa tiếng Việt trở thành ngoại ngữ tự chọn trong hệ thống giáo dục bang Hessen, sánh vai với các ngôn ngữ như Tây Ban Nha, Italy, Nhật Bản, qua đó khẳng định vị thế của cộng đồng người Việt và giá trị văn hóa Việt Nam giữa lòng châu Âu.
Chị Thanh, phụ huynh trong lớp tiếng Việt tại Frankfurt trải lòng: “Đây là lần đầu tiên một lớp học tiếng Việt quy mô lớn như vậy được tổ chức. Trước đây khó khăn lớn nhất là không tìm được địa điểm. Nhờ sự hỗ trợ của Tổng Lãnh sự quán, vấn đề này đã được giải quyết.”
Chính vì vậy, việc Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Frankfurt đứng ra bảo trợ lớp học được xem là một “điểm tựa” quan trọng, giúp lớp học có cơ hội tồn tại lâu dài, không chỉ là nơi học chữ mà còn là môi trường giao lưu văn hóa, kết nối bạn bè, nuôi dưỡng tuổi thơ Việt cho các em nhỏ.
Bên cạnh đó, để phong trào dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài phát triển bền vững, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong nước với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và các hội đoàn kiều bào; đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của việc học tiếng Việt; đồng thời có cơ chế động viên, khen thưởng kịp thời đối với giáo viên, học sinh có đóng góp tích cực.
Bởi xét cho cùng, một chính sách tốt chỉ có thể đi vào cuộc sống khi có những con người sẵn sàng đứng lớp, những gia đình sẵn sàng đồng hành và một cộng đồng sẵn sàng tiếp nối.
Giữa lòng nước Đức, tiếng Việt không chỉ là ngôn ngữ, mà vẫn mãi, sẽ là “chiếc cầu nối” với ông bà, với những câu chuyện gia đình, với ký ức quê hương. Và ở Berlin hay Frankfurt, trong những lớp học nhỏ diễn ra mỗi cuối tuần, tiếng Việt vẫn đang được giữ lại bằng sự kiên trì, yêu thương và trăn trở của những giáo viên mang trong mình một niềm tin rằng: còn nói được tiếng Việt, còn gìn giữ được cội nguồn.
Và để ngọn lửa ấy không chỉ cháy trong một thế hệ, cần có thêm những người tiếp nối, thêm những điểm tựa và một hành lang chính sách đủ dài để tiếng Việt có thể đi xa hơn trong lòng nước Đức./.
Phương Hoa-Vũ Hà
Mời các bạn đọc chùm bài tại đây: