Tướng Giáp trong nghiên cứu của giáo sư Hàn Quốc

Nghiên cứu về Tướng Giáp, GS-TS Ahn Kyong Hwan nhận định ông là một vị tướng văn võ song toàn, tài đức toàn vẹn, không có từ “chiến bại.”
Trước tin Đại tướng Võ NguyênGiáp từ trần, giáo sư-tiến sỹ Ahn Kyong Hwan, Viện trưởng Viện Giáo dục ngônngữ Quốc tế, Trường Đại học Chosun - Hàn Quốc đã bày tỏ lòng tiếc thương vô hạnngười anh hùng dân tộc của Việt Nam. Giáo sư-tiến sỹ Ahn Kyong Hwan đã gửi Vietnam+ bài viết về Đại tướng mang tên"Chiến lược quân sự của Tướng Võ Nguyên Giáp," một lần nữa thể hiện tình cảm vàsự ngưỡng mộ sâu sắc của ông đối với Đại tướng. Sau đây là nội dung bài viết của Viện trưởng Viện Giáo dục ngôn ngữ Quốc tế,Trường Đại học Chosun - Ahn Kyong Hwan. 1. Lời nói đầu Việt Nam là một nước bị nhiều nạn ngoại xâm hơn bất cứ nước nào trên thế giới vàcó nhiều vị anh hùng dân tộc. Ở thế kỷ 20, trong ba lần chiến tranh Việt Nam,Tướng Võ Nguyên Giáp là người đã đưa đến chiến thắng trong chiến tranh Việt Namlần thứ nhất và thứ hai. Ông là một vị tướng được sách “Great Military Leaders anh Their Campaigns,” xuấtbản tại Anh quốc vào năm 2008, bình chọn là một trong số 59 danh tướng trên thếgiới trong lịch sử chiến tranh của nhân loại trong suốt 2.500 năm qua cùng vớivua Alexander The Great B.C (356-B.C323), tướng Hannibal (247-B.C183), ChesterWilliam Nimitz - anh hùng đô đốc hải quân Mỹ trong Chiến tranh thế giới II. Võ Nguyên Giáp cùng với những tướng quân của Việt Nam như Ngô Quyền, Trần HưngĐạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, là những vị tướng vĩ đại làm rực rỡ lịch sử Việt Nam. Tướng Võ Nguyên Giáp là người sáng lập ra Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông vừa làngười chỉ huy lỗi lạc, vừa là nhà chính trị tài năng, được thế giới nhắc đến nhưmột nhân vật huyền thoại của Việt Nam. Ông là người dẫn dắt quân dân Việt Nam đi đến chiến thắng trong cuộc chiến tranhgiành độc lập với thực dân Pháp từ 1946-1954 (chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất)và từ 1960-1975 trong chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước (chiến tranhĐông Dương lần thứ hai). Nhà lịch sử học nổi tiếng của Việt Nam, giáo sư Phan Huy Lê đánh giá: “Đại tướngVõ Nguyên Giáp là một vị Đại tướng và là Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhândân Việt Nam. Trong vai trò là anh cả của Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam,Đại tướng đã thực hiện vai trò một cách trọn vẹn trong cuộc đấu tranh giành độclập từ tay thế lực thực dân Pháp cũng như trong cuộc đấu tranh chống Mỹ thốngnhất đất nước."

Bộchỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh (giữa), Đại tướng,Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp (ngoàicùng bên phải) và các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch. Ảnh: Tư liệuTTXVN
Để hiểu rõ ba lần chiến tranh xảy ra tại Việt Nam vào thế kỷ 20, ta cần phảinghiên cứu về thành tựu hoạt động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trả lời câu hỏivì sao một người chưa được huấn luyện về quân sự, chỉ giảng dạy lịch sử ở trườnghọc, lại có thể chỉ đạo quân sự xuất sắc trong việc đấu tranh giành được độc lậpvà thống nhất đất nước? Việc nghiên cứu thành tựu của Tướng VõNguyên Giáp trong vai trò là một Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân là một nội dungrất quan trọng trong việc tìm hiểu dân tộc Việt Nam và chiến tranh Việt Nam thế kỷ 20. 2. Hoàn cảnh gia đình và thời niên thiếu Tướng Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnhQuảng Bình, miền Trung Việt Nam và qua đời ngày 4/10/2013. Phụ thân của ông làVõ Quang Nghiêm (phụ mẫu là Nguyễn Thị Kiên), là một nho sinh thất bại trongkhoa cử, sinh kế bằng nghề thầy đồ và bốc thuốc tại quê nhà. Ông phản đối sự cai trị của thực dân Pháp, tham gia phong trào vận động chốngPháp, bị bắt đưa về nhà tù Huế và mất trong tù, sau ngày thống nhất đất nước30/4/1975, hài cốt của ông mới được di dời về chôn cất tại quê nhà. Tướng Giáp có tất cả bảy anh chị em (ba nam, bốn nữ), nhưng anh cả và chị lớnqua đời sớm, còn lại Tướng Giáp và em là Võ Thuần Nho (Thứ trưởng Bộ Giáo dục). Vốn sinh trưởng trong một dòng họ lớn tại làng An Xá, phụ thân lại là một nhàNho học nên  Tướng Giáp từ nhỏ đã được giáo dục rất nghiêm khắc, được dạyvề Khổng Tử, Mạnh Tử và Tân học của Tây phương. Học xong lớp 3, Tướng Giáp đến làng Đồng Hới cách nhà 20km, ở trọ nhà bạn củaphụ thân và học hành ở đó. Năm 1925, ông thi tốt nghiệp trường tiểu học ĐồngHới, với kết quả đứng đầu toàn tỉnh Quảng Bình. Sau khi tốt nghiệp tiểu học, ông dự định nhập học trường nhà nước nên chuyển vàoHuế, Thủ đô của Nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Ông đã đỗ vào trường Quốc học Huế, đứngthứ hai sau Nguyễn Thúc Hào. Hai năm sau, ông bị đuổi học sau khi cùng vớiNguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn, Phan Bôi tổ chức một cuộc bãi khóa. Cụ thể vụ việc, vào tháng 4/1927 có xảy ra việc vận động bãi khóa tại trườngQuốc học Huế; bạn của ông là Nguyễn Chí Diểu bị nhà cầm quyền thực dân Pháp cholà nhân vật cầm đầu trong cuộc bãi khóa nên cuối cùng bị đuổi học. Võ NguyênGiáp phản đối việc Diểu bị đuổi học, đã trực tiếp tổ chức vận động bãi khóa,khiến phong trào lan rộng ra các cấp trường học khắp thành phố Huế, dĩ nhiên sauđó Giáp cũng bị đuổi học. Sau khi rời trường Quốc học Huế trở về quê, bỗng một hôm Nguyễn Chí Diểu tìm gặpVõ Nguyên Giáp, mang theo một tập tài liệu về “Liên đoàn các dân tộc bị áp bứctrên thế giới” và một số văn kiện cuộc họp của Việt Nam Thanh niên Cách mạngđồng chí hội ở Quảng Châu, Trung Quốc, trong đó có hai bài phát biểu của Lãnh tụNguyễn Ái Quốc. Các tài liệu này đã khiến Võ Nguyên Giáp thực sự xúc động. Mùa Hè năm 1928, Giáp trở lại Huế đi theo con đường của chiến sỹ cách mạng. NhờNguyễn Chí Diểu giới thiệu, ông đã tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, một đảngtheo chủ nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền TrungViệt Nam. Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại nhà xuấtbản do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, VõNguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, được trang bị lý luận về cách mạng, dântộc, xã hội, kinh tế. Tháng 10/1930, trong sự kiện Xô Viết Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giamở Nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với nhiều nhà yêu nước khác là người vợ đầu làNguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các giáo sư Đặng Thai Mai, LêViết Lượng... Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trảtự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế cấm không cho ở lại Huế. Sau đó, năm1937, ông ra Hà Nội nhập học vào trường Albert Sarraut và sau ba năm, ông đã đậubằng cử nhân luật. Tuy nhiên, do bận rộn hoạt động cách mạng, năm 1938, ông đãbỏ dở năm thứ 4 chương trình học Kinh tế và Chính trị mà không nhận được bằngluật sư. Từ năm 1936-1939, Võ Nguyên Giáp đã tham gia phong trào Mặt Trận Dân Chủ ĐôngDương, là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.Ông cũng hoạt động với tư cách là ký giả của các báo bằng tiếng Pháp, báo Tintức, báo Dân chúng. Tháng 5/1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long,Hà Nội, do Hoàng Minh Giám làm hiệu trưởng. Người vợ đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Nguyễn Thị Quang Thái. Bà bị nhàcầm quyền Pháp bắt giam và mất trong tù vào năm 1940. Liệt sỹ Thái hy sinh khicòn rất trẻ, bà được biết đến như một hình tượng người vợ-người mẹ yêu nước, đảmđang. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và vợ đầu có một con gái tên là Võ Hồng Anh, bà đã mấtnăm 2009 lúc 68 tuổi. Sau khi bà Nguyễn Thị Quang Thái hy sinh, sau đó ít lâu, Tướng Giáp đã tái hônvới Đặng Bích Hà, con gái của nhà cách mạng Đặng Thai Mai vào năm 1946 và sinhđược hai trai, hai gái. 3. Khởi đầu hoạt động quân sự Để gặp Hồ Chí Minh, Tướng Giáp đã sử dụng tên giả là Dương Hoài Nam cùng PhạmVăn Đồng qua Cao Bằng sang Trung Quốc. Gặp Võ Nguyên Giáp tại Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã biết ngay đây là một nhân vậtxuất chúng nên liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiến cử ông đến khu quânsự Diên An học quân sự. Tuy nhiên khi Võ Nguyên Giáp đang đến Diên An thì Hồ Chí Minh gọi ông trở về. Sởdĩ Tướng Giáp phải trở về là vì có phán đoán rằng tại châu Âu, phátxít Đức đãxâm lược nước Pháp thì tại Đông Dương cũng sẽ có những chuyển biến lớn, phảitriệt để lợi dụng tình hình và đón thời cơ này. Vào năm 1940, Tướng Giáp đã gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương, bắt đầu hoạt độngtrong Việt Nam độc lập Đồng minh hội. Vào Tết âm lịch năm 1941, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp về nước theo đường CaoBằng, chuẩn bị cho cuộc cách mạng tại hang Bắc Pó, sau đó tổ chức thành côngcuộc Cách mạng Tháng Tám. Tướng Giáp đã tham gia xây dựng căn cứ cách mạng và xây dựng khu huấn luyện quânsự cho Việt Minh tại Cao Bằng. Ngày 22/12/1944, theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp thành lập đội ViệtNam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, làtiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Chỉ huy Võ NguyênGiáp đọc Quân lệnh sốI trong ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyêntruyền Giải phóng quân - tiền thân của QĐND Việt Nam ngày 22/12/1944 tại Cao Bằng. Ảnh: TTXVN
Ngày 14/8/1945, Võ Nguyên Giáp trở thành Ủy viên Ban chấp hành Trung ương ĐảngCộng sản Đông Dương, sau đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia Ủy banKhởi nghĩa toàn quốc. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám, ông là Bộ trưởng Bộ nội vụ, Thứ trưởng Bộ Quốcphòng trong chính phủ lâm thời và là Tổng tư lệnh Quân đội và Dân quân tự vệ; làBộ trưởng Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp trong thời gian đến tháng 7/1947,và từ tháng 7/1948 đến tháng 2/1980. Từ năm 1954-1982, ông là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban quân sự trung ương,Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ năm 1955-1991 là Phó Chủ tịch Ủy banquốc phòng. Năm 1991, ở tuổi 80, ông về hưu, rời khỏi chức Phó Thủ tướng và Ủy viên Trungương Đảng. Trong 50 năm hoạt động quân sự và chính trị của Tướng Giáp thì suốt 30 năm ônglà anh hùng dân tộc trong vai trò là Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, làmột danh nhân quân sự kiệt xuất sống mãi trong lòng người Việt Nam. 4. Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ 1 nổ ra vào ngày 19/12/1946 thì Võ NguyênGiáp, với chức vụ là Tổng tư lệnh kiêm Bí thư Ủy ban quân sự, là tướng chỉ huyđã chiến thắng trong chiến tranh chống thực dân Pháp giành độc lập trong suốt 9năm. Tướng Giáp chưa trải qua một trường huấn luyện quân sự nào, chưa mang cấp bậcnào trong quân đội nhưng ông được phong chức đại tướng đầu tiên của Quân độiViệt Nam ở tuổi 37 vào ngày 28/5/1948. Tháng 8/1948, ông là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp, ông đã có sáng kiến chiến thuậtvượt trội, huấn luyện quân đội để có thành tích chiến thắng lịch sử Điện BiênPhủ. Năm 1954, Hồ Chí Minh và Đảng Lao động đã trao toàn quyền chỉ huy cho Tướng Giáptrong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông xây dựng kế hoạch hành quân, chỉ huy 4 Sưđoàn (các Sư đoàn 308, 304, 312, 316). Ngày 13/3/1954, quân đội Hồ Chí Minh bắt đầu tổng tấn công và ngày 7/5/1954, làmnên chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp trongsuốt 83 năm, nước Việt Nam độc lập hoàn toàn. 5. Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai Pháp rút ra khỏi Việt Nam, Việt Nam cho rằng đồng thời đạt được độc lập và thốngnhất đất nước, nhưng theo Hiệp định Geneve năm 1954 thì đất nước lại bị chia cắtthành Nam-Bắc tại Vĩ tuyến 17. Để thống nhất Nam-Bắc thì tiến hành chiến tranhthống nhất là điều bất đắt dĩ. Trong thời gian chiến tranh Đông dương lần thứ 2, Tướng Giáp được phong chức vụỦy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ủy ban quân sự Trung ương, Tổng tư lệnh Quân độiNhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; từ năm 1955-1991 là Phó Chủ tịchtrong Hội đồng Nội các. Tướng Giáp là tướng chỉ huy chiến tranh thống nhất đất nước trong cuộc chiếntranh Đông dương lần 2 này. Từ năm 1954-1956, Tướng Giáp đã chủ trương vừa đấu tranh hòa bình vừa yêu cầuchính quyền miền Nam tuân thủ Hiệp định Genever để thống nhất Việt Nam nhưngChính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố chính sách “Tố cộng-Diệt cộng” vừa lờ đi yêucầu này. Tháng 1/1959, nhận thấy rằng việc tuân thủ Hiệp định Genever không còn khả năngthực hiện, Trung ương Đảng mở Đại hội mở rộng lần thứ 15, Tướng Giáp đã chủtrương thống nhất Nam-Bắc bằng đấu tranh vũ lực và được Đại hội quyết nghị thôngqua. Để xây dựng hệ thống phục vụ quân đội thông qua dãy Trường sơn, Sư đoàn 559 đượcthiết lập, gia tăng chiến tranh du kích ở miền Nam, tổ chức Mặt trận Giải phóngMiền Nam thăng cấp đơn vị là trung đoàn. Năm 1964, được sự chấp thuận của Bộ Chính trị, Võ Nguyên Giáp một mặt bí mậttuyển chọn Nguyễn Chí Thanh, Lê Trọng Tấn phái vào chiến trường Đông Nam Bộ,phong chỉ huy quân đội Giải phóng miền Nam, một mặt để gây thanh thế chiến tranhđã thành lập Sư đoàn 1, 2, 3, 5, 7 và 9.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các vị lãnh đạo Quân ủy Trung ươngtheo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Ảnh: TTXVN
Vào năm 1968, với quyết định của Bộ Chính trị và các nhà lãnh đạo, Hà Nội đãquyết định tổng tấn công vào Tết Mậu Thân âm lịch. Trong cuộc tổng tấn công TếtMậu Thân, thiệt hại về người rất nhiều nhưng đã đạt được thành quả là có thểchuyển thành cuộc chiến tranh rộng lớn, mở rộng dư luận phản chiến trên toàn thếgiới và tại Mỹ, buộc Mỹ phải chất dứt ném bom miền Bắc, thực hiện hiệp định đìnhchiến và buộc toàn thể quân đội nước ngoài phải rút lui khỏi Việt Nam. Năm 1973, ngay sau khi quân đội nước ngoài rút đi thì vào ngày 30/4/1975, tổngtiến công miền Nam thống nhất toàn bộ đất nước bằng vũ lực. 6. Chiến lược quân sự của Tướng Giáp Suốt 30 năm từ năm 1945-1975, đối với hai nước Mỹ và Pháp, Việt Nam là nước đốiphương hết sức ngoan cường trong chiến tranh, vì vậy mục tiêu chiến tranh vàphương pháp tiến hành cũng buộc phải khác nhau. Vào năm 1945, Việt Nam ở thời kỳ đầu tuyên ngôn độc lập cũng chưa xây dựng đượcthể chế chính phủ, tổ chức quân sự cũng chỉ mới ở bước đầu. Nhà chính trị học Ivan Arrenguin-Toft của Đại học Harvard, Mỹ, đã phân tích cuộcchiến tranh giữa các nước nhược tiểu và cường quốc với sự chênh lệch dân cư vàlực lượng quân sự 10 lần trong vòng 200 năm qua đã kết luận tỷ lệ chiến thắngcủa cường quốc là 71.5%, trong chiến đấu không theo luật của nước mạnh thì nướcyếu có tỷ lệ thắng được là 63.6%. Bí quyết chiến thắng của người yếu là từ chối quy tắc của người mạnh và hoàntoàn sử dụng chiến lược sáng tạo mới. Việt Nam chiến thắng Mỹ trong chiến tranhchính là Việt Nam hiểu được những hạn chế của mình. Để khắc phục điều này, ViệtNam đã có các chiến lược quân sự - do Đảng quyết định, cũng có thể gọi là chiếnlược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến lược của Tướng Võ Nguyên Giáp. Các chiến lược đó là: Thứ nhất, Chiến lược Ba mũi giáp công, là chiến lược công kích địch ba phươnghướng, vừa đấu tranh trong vũ trang quân sự, vừa đấu tranh trong chính trị, đồngthời kích động địch. Trong thời kỳ mới thành lập nước, Việt Nam trực diện chiến đấu với cường quốc làviệc không thể bảo đảm thành công được. Vì vậy, phải giảm đối đầu quân sự, độngviên phương tiện chính trị, mở rộng phong trào dư luận phản chiến ra thế giới,khuấy động địch để ý chí chiến đấu của địch yếu đi, hoặc thực hiện vừa đấu tranhchính trị vừa đấu tranh vũ lực ở mức tối thiểu. Thứ hai, Chiến lược Du kích. Đây là chiến tranh mà đối tượng là nước Mỹ và Phápcó tiềm lực quân sự mạnh, nên Việt Nam cần có thời gian để vũ trang, chỉnh đốntổ chức quân sự và gia tăng sức mạnh. Đương nhiên, chiến lược mà Việt Nam phảichọn là phát triển và mở rộng du kích chiến ra toàn quốc. Đối phó với chiếnthuật tốc chiến tốc thắng của địch thì chiến thuật du kích được coi như là kỹthuật làm chậm đối phương. Thứ ba, Chiến lược Đoàn kết đại đồng. “Giúp bạn nghĩa là giúp mình” của tư tưởngHồ Chí Minh là giúp người bạn Lào và Campuchia để mở rộng hợp sức hàng ngũ đấutranh độc lập, tăng cường năng lực, sức đấu tranh, bền bỉ tập hợp đại đoàn kếttoàn dân, phát huy sức mạnh trong tất cả mọi lĩnh vực, thực hiện phong trào “Thiđua yêu nước” một cách liên tục, cổ xúy tinh thần yêu nước của nhân dân. Thứ tư, Chiến lược Nổi dậy liên tục, là chiến lược thủ thế khi địch tấn công vàbất ngờ tấn công một cách liên tục dồn địch vào thủ thế. Thứ năm, Chiến lược "1 trong 2,” là chiến lược mà toàn dân tại nơi sinh kế củamình cầm súng lên “một tay là búa, một tay là súng” hoặc “một tay là cái cày,một tay là cây súng,” vũ trang toàn dân, toàn dân tham gia chiến tranh do dân,vì dân mà thực hiện chiến tranh độc lập và thống nhất. Những chiến lược này đã giúp một nước Việt Nam mới thành lập với nền kinh tế lạchậu, thiếu vũ khí và binh lực, đã trở thành nước hiện đại hóa, tiến hành chiếntranh chống các nước mạnh giành thắng lợi, giành độc lập, thống nhất đất nước. 7. Kết luận Nghiên cứu về Tướng Giáp, ta có thể rút ra các điểm chính như sau: Thứ nhất, trong những câu chuyện nói về Tướng Giáp không thể thiếu những từ bổtrợ như "tối cao," "đầu tiên," "trường thọ nhất." Thứ hai, Tướng Giáp là người đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp tiểu học trong toàntỉnh Quảng Bình. Ông học xong lớp 3, đến Đồng Hới cách xa nhà đến 20km ở nhà bạncủa phụ thân để học tập. Ở tuổi còn thơ, xa cha mẹ mà tốt nghiệp tiểu học đỗ đầu toàn tỉnh Quảng Bình,thi đậu vị thứ hai vào Trường Quốc học Huế đã chứng minh rằng Tướng Giáp rấtthông minh. Thứ ba, Tướng Giáp được sinh ra trong một gia đình truyền thống yêu nước, conmột nhà nho, một nhà ái quốc hoạt động chống Pháp, bị bắt và bị mất trong tù.nênông luôn khắc phục khó khăn, chỉ đi theo con đường thống nhất và độc lập đấtnước. Thứ tư, với tinh thần của Khổng giáo và với cương vị một lãnh đạo quân đội,Tướng Giáp tuyệt đối trung thành với đất nước, có nhân phẩm, trọng chữ tín. Hoàncảnh gia đình tuy không dư dả nhưng ông được học tập Nho học và tư tưởng nhânvăn từ phụ thân. Do phản đối việc bạn là Nguyễn Chi Diểu bị đuổi học, ông vậnđộng bãi khóa nên cũng bị đuổi học và chính việc này đã mở đường cho sự nghiệpcách mạng của mình, vươn tới đỉnh cao, cùng quân dân Việt Nam giành lại độc lập,thống nhất đất nước. Thứ năm, về quan hệ giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam với Tướng Giáp có thể nói“Quân đội Việt Nam chính là Tướng Giáp, Tướng Giáp chính là Quân đội Việt Nam.” Ngày 22/12/1944, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tướng Giáp đã thànhlập Đội Tuyền truyền Giải phóng quân gồm có 34 người, là tiền thân của Quân độiNhân dân Giải phóng. Từ đó đến năm 1991, ông đã xây dựng quân đội, chỉ huy, tham gia chính sách quốcphòng, trong đó có 50 năm là Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong lịchsử thế giới, có lẽ không có quốc gia nào có người đảm nhiệm cương vị Tổng tưlệnh quân đội trong thời gian dài như Tướng Giáp. Thứ sáu, Tướng Giáp là vị tướng rất có đạo đức, luôn dạy các các chỉ huy dướicấp mình phải coi trọng sinh mạng của binh sỹ. Đó không chỉ là vấn đề sinh mạngcon người mà còn vì Việt Nam rất khó khăn trong xây dựng nhiều đơn vị quân độikhi là một nước nhỏ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm các thương binhđang điều trị tại Quân y viện 108 (nay là Bệnh viện TW Quân đội 108) năm 1969. Ảnh: TTXVN
Thứ bảy, Tướng Giáp sử dụng chiến lược quân sự do Đảng quyết định rất hiệu quả,là một Tổng tư lệnh trong lịch sử nhân loại làm cho cường quốc quân sự Mỹ phảihổ thẹn. Dù trong tình hình chiến đấu khó khăn cực độ, ông vẫn nói “Vì Mỹ khôngbiết rõ người Việt Nam nên sẽ thất bại ở Việt Nam,” luôn luôn lạc quan với chiếnthắng của Việt Nam và lời nói này đã thành sự thật. Trong suốt 2.500 lịch sử chiến tranh của nhân loại, Tướng Giáp được bình chọn làmột trong 59 danh tướng của thế giới và trong danh sách này, ông là tướng duynhất vẫn còn sống vào thời điểm bình chọn. Việt Nam đã sinh ra một nhà chiến lược thiên phú và Tướng Giáp là niềm tự hàocủa Việt Nam. Trong lúc đất nước đang lâm vào tình cảnh “đèn treo trước gió,”Tướng Giáp đã giúp đỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Tổng chỉ huy của hai cuộc khángchiến chống Pháp, Mỹ. Bất kỳ một quân nhân nào cũng ngưỡng vọng một vị tướng tài danh như Tướng Giáp. Để hiểu hiểu rõ chiến tranh Việt Nam xảy ra trong thế kỷ 21 thì việc nghiên cứuTướng Giáp là việc cần thiết trước tiên. Nghiên cứu về Tướng Giáp, một vị tướngvăn võ song toàn, tài đức toàn vẹn, không có từ “chiến bại” sẽ luôn là đề tàicho các chiến lược gia quân sự, các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới chođến mãi về sau./.
Ahn Kyong Hwan (Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục