Tuyên Quang đặt mục tiêu hình thành mới ít nhất 4 khu công nghiệp, 8 cụm công nghiệp; phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 35%, phủ sóng 5G tại 100% trung tâm xã và hoàn thành tối thiểu 3.000 căn nhà ở xã hội, nhà ở công nhân vào năm 2030.
Đây là những mục tiêu đáng chú ý trong chiến lược đột phá phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội của tỉnh Tuyên Quang, với kỳ vọng mở rộng không gian phát triển, tăng sức hút đầu tư và tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Các mục tiêu trên được Ủy ban Nhân dân tỉnh cụ thể hóa tại Kế hoạch số 409/KH-UBND ngày 28/10/2026 về thực hiện Nghị quyết số 91-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Không dừng ở việc đầu tư từng công trình riêng lẻ, kế hoạch hướng đến xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối liên vùng và tạo sức lan tỏa giữa các khu vực, lĩnh vực kinh tế. Trọng tâm được xác định là giao thông, hạ tầng công nghệ, đô thị và các khu, cụm công nghiệp, đồng thời gắn kết chặt chẽ với Quy hoạch tỉnh và Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Trong bức tranh phát triển hạ tầng, giao thông được xem là một trong những khâu đột phá có ý nghĩa quyết định đối với khả năng khai thác tiềm năng và mở rộng thị trường của địa phương.
Tỉnh ưu tiên triển khai tuyến cao tốc Tuyên Quang-Hà Giang kết nối đến Thanh Thủy, đồng thời đầu tư các công trình kết nối với cao tốc Nội Bài-Lào Cai. Cùng với đó là kế hoạch cải tạo, nâng cấp các tuyến quốc lộ 4C, 280, 34, 4 và những tuyến đường tỉnh trọng điểm như ĐT.191, ĐT.187, ĐT.186, ĐT.183, ĐT.182B, ĐT.189.
Việc phát triển các trục giao thông này không chỉ nhằm cải thiện điều kiện đi lại mà còn mở rộng khả năng lưu thông hàng hóa, kết nối vùng nguyên liệu với các trung tâm sản xuất, thương mại và dịch vụ.
Đặc biệt, hạ tầng giao thông khu vực biên giới, đường tuần tra biên giới, hệ thống cầu, các công trình phòng, chống sạt lở, bảo vệ bờ sông Lô, sông Gâm cũng được đưa vào định hướng đầu tư. Tỉnh đồng thời chú trọng phát triển logistics, cảng và bến thủy nội địa, từng bước ứng dụng công nghệ trong quản lý, khai thác giao thông.
Ở khu vực nông thôn, mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ cứng hóa đường xã lên khoảng 85%, đường thôn đạt 75%, đường ngõ, xóm đạt 65% và đường nội đồng đạt 60%. Đây là những chỉ tiêu có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng đời sống người dân, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu và phát triển sản xuất tại cơ sở.
Các địa phương được giao trách nhiệm nâng cấp, duy tu, bảo trì mạng lưới giao thông, bảo đảm kết nối thông suốt giữa khu dân cư và vùng sản xuất, đồng thời huy động thêm nguồn lực xã hội phù hợp.
Một hướng đi quan trọng khác là phát triển đô thị gắn với nâng cao chất lượng môi trường sống. Tuyên Quang đặt mục tiêu tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 35% vào năm 2030, phát triển đô thị Tuyên Quang và đô thị Hà Giang theo định hướng đô thị loại 2.
Các đô thị trung tâm, đô thị động lực, khu đô thị mới và khu dân cư sẽ được quy hoạch theo hướng xanh, thông minh, có bản sắc. Thay vì chỉ chú trọng mở rộng diện tích xây dựng, tỉnh đặt yêu cầu đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông đô thị, cấp thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng, cây xanh, công viên và không gian công cộng.
Đáng chú ý, mục tiêu hoàn thành tối thiểu 3.000 căn nhà ở xã hội, nhà ở công nhân cho thấy định hướng phát triển đô thị được đặt trong mối quan hệ với nhu cầu an cư và thu hút lao động. Khi các khu công nghiệp được mở rộng, nhu cầu về nhà ở, dịch vụ và hạ tầng xã hội cho người lao động sẽ gia tăng. Vì vậy, việc chuẩn bị quỹ nhà ở và các điều kiện sinh hoạt thiết yếu được xem là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp bền vững.
Đối với hạ tầng số, tỉnh đặt mục tiêu 100% hệ thống thông tin, nền tảng và cơ sở dữ liệu dùng chung thuộc phạm vi phải kết nối, chia sẻ được kết nối, chia sẻ theo quy định; 100% trung tâm xã có sóng 5G và 100% thôn, tổ dân phố có sóng thông tin di động.
Cùng với mở rộng hạ tầng viễn thông, tỉnh sẽ từng bước hoàn thiện các nền tảng phục vụ chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) và cơ sở dữ liệu các dự án hạ tầng trọng điểm.
Đây không đơn thuần là nhiệm vụ mở rộng vùng phủ sóng mà còn là điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện chất lượng dịch vụ công và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ. Yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, khả năng tích hợp, khai thác dữ liệu và tránh đầu tư trùng lặp cũng được đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong lĩnh vực công nghiệp, mục tiêu hình thành mới ít nhất 4 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp là một trong những điểm nhấn lớn của kế hoạch.
Tỉnh định hướng thu hút đầu tư đi đôi với hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hệ thống xử lý nước thải tập trung, hạ tầng bảo vệ môi trường và chuẩn bị quỹ đất sạch.
Các khu công nghiệp Long Bình An, Nhữ Khê-Đội Cấn, Tam Đa được định hướng mở rộng, hoàn thiện hạ tầng; đồng thời tiếp tục hoàn thiện Khu công nghiệp Bình Vàng và Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy.
Việc phát triển thêm các khu, cụm công nghiệp được kỳ vọng tạo ra những không gian sản xuất mới, tăng khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo thêm việc làm. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ được đo bằng số lượng khu, cụm công nghiệp được thành lập mà còn phụ thuộc vào tiến độ hoàn thiện hạ tầng, khả năng thu hút doanh nghiệp và chất lượng công tác bảo vệ môi trường. Bởi vậy, yêu cầu hoàn thành đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định và bảo đảm hạ tầng kỹ thuật đồng bộ được tỉnh xác định là điều kiện quan trọng trong quá trình triển khai.
Song song với các dự án tạo động lực tăng trưởng, hạ tầng giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao và các công trình phục vụ dân sinh tiếp tục được quan tâm. Trong giai đoạn 2026-2027, tỉnh phấn đấu hoàn thành xây dựng 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới; kiên cố hóa 100% phòng học và từng bước nâng cao tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia. Hạ tầng y tế được cải tạo, nâng cấp, hướng tới mục tiêu 100% đơn vị y tế và trạm y tế cấp xã được đầu tư cơ sở vật chất.
Tỉnh cũng đặt mục tiêu 100% xã, phường có thiết chế văn hóa, thể thao hoạt động hiệu quả; 100% thôn, tổ dân phố có nhà văn hóa-khu thể thao. Các công trình điện, thủy lợi, cấp nước, du lịch và phòng, chống thiên tai được triển khai theo quy hoạch, kế hoạch và khả năng cân đối nguồn lực.
Để hiện thực hóa những mục tiêu lớn, bài toán đặt ra là phải bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch, kế hoạch đầu tư và nhu cầu phát triển thực tế, đồng thời sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương xác định rõ nhiệm vụ, đơn vị chủ trì, cơ quan phối hợp, tiến độ và kết quả đầu ra. Nguồn vốn sẽ được ưu tiên cho những công trình trọng điểm, cấp thiết, có tính kết nối và khả năng tạo động lực phát triển; đồng thời tăng cường huy động vốn ngoài ngân sách, xã hội hóa, hợp tác công tư (PPP) và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Cùng với đó, công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng, quản lý chất lượng, tiến độ, chi phí và giải ngân phải được thực hiện chặt chẽ. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm chủ động rà soát, tháo gỡ khó khăn, công khai, minh bạch thông tin về quy hoạch, danh mục dự án và tiến độ triển khai.
Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối theo dõi, tổng hợp, đôn đốc, đánh giá kết quả chung; Sở Tài chính tham mưu cân đối nguồn lực; Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì các nhiệm vụ về hạ tầng công nghệ, chuyển đổi số. Các sở chuyên ngành, chủ đầu tư và Ủy ban Nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý.
Theo kế hoạch, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải gửi báo cáo kết quả thực hiện hằng năm về Sở Xây dựng trước ngày 15/12 để tổng hợp, báo cáo Ủy ban Nhân dân tỉnh trước ngày 31/12. Việc đánh giá giữa kỳ được tiến hành trong năm 2028 và tổng kết vào năm 2030.
Với hàng loạt mục tiêu cụ thể về giao thông, đô thị, công nghiệp, công nghệ và hạ tầng xã hội, Tuyên Quang đang đặt nền móng cho một giai đoạn phát triển mới, trong đó kết cấu hạ tầng không chỉ đóng vai trò phục vụ mà còn phải đi trước, mở đường cho tăng trưởng.
Thách thức lớn nhất sẽ nằm ở khả năng chuyển hóa các chỉ tiêu quy hoạch thành công trình thực tế, bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu tư. Khi các trục kết nối được khai thông, không gian công nghiệp được mở rộng và hạ tầng dân sinh được hoàn thiện, dư địa phát triển của tỉnh sẽ có thêm điều kiện để được khai thác, tạo sức bật cho kinh tế-xã hội đến năm 2030./.
Tuyên Quang thông qua 14 nghị quyết, tập trung nguồn lực cho phát triển
Hội đồng Nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã thông qua Nghị quyết giao biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh...