Cách đây đúng 30 năm, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS1982), được 107 quốc gia; trong đó có Việt Nam, ký tại Vịnh Montego thuộc Jamaica, đánh dấu thành công của Hội nghị Liên hợp quốc vềLuật Biển lần thứ ba, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chứcquốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ.
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (gọi tắt là Công ước) là một vănkiện quốc tế đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục. Công ước cóhiệu lực từ ngày 16/11/1994 và đã trở thành một trong những điều ước quốc tế đaphương quan trọng nhất của thế kỷ XX và là điều ước quốc tế phổ cập với 164 quốcgia thành viên, tính đến thời điểm hiện nay.
Công ước đã trù định toàn bộ các vấn đề liên quan đến các vùng biển củacác quốc gia ven biển cũng như những vấn đề liên quan đến việc sử dụng, khaithác vùng biển quốc tế và đáy đại dương.
Những vấn đề cơ bản được đưa vào nộidung Công ước như Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủquyền và quyền tài phán quốc gia gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnhhải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; Chế độ pháp lý của vùng biển quốctế và đáy đại dương-di sản chung của loài người; Việc sử dụng và quản lý tàinguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môitrường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; Vấn đề giảiquyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của Cơ quan quyềnlực quốc tế về đáy đại dương, Ủy ban ranh giới ngoài thềm lục địa, Tòa án Luậtbiển quốc tế, Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước...
Công ước được đánh giá là bản Hiến pháp về đại dương. Những quy định củaCông ước là kết quả của quá trình hợp tác, đấu tranh, thỏa hiệp và xây dựngtrong nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị-xã hội,trình độ phát triển kinh tế, góc nhìn luật pháp khác nhau.
Việt Nam là một trong số 107 quốc gia tham gia ký Công ước ngay trong ngàyvăn bản này được mở và để ký. Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyếtvề việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 của Nghị quyết nêu rõ:“Bằng việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng mộttrật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.”
Việc Việt Nam trở thành thành viên của Công ước có ý nghĩa rất to lớn vìCông ước là cơ sở pháp lý quốc tế xác nhận các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tếvà thềm lục địa của Việt Nam cũng như các quyền và lợi ích chính đáng của ViệtNam trên biển. Việc tham gia Công ước chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế vềphạm vi các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Gianhập Công ước, Việt Nam được quốc tế thừa nhận có vùng lãnh hải 12 hải lý, vùngđặc quyền kinh tế 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mởrộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở.
Công ước còn là cơ sở pháp lý quốc tế cho việc phân định vùng biển chồnglấn giữa Việt Nam với các nước ven Biển Đông, góp phần tạo môi trường ổn định,hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực. Vận dụng Công ước, trong nhữngnăm qua Việt Nam đã tiến hành đàm phán, phân định vùng biển và thềm lục địachồng lấn giữa Việt Nam với các nước xung quanh Biển Đông như phân định ranhgiới biển với Thái Lan (năm 1997); phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (năm 2000); phân địnhranh giới thềm lục địa với Indonesia (năm 2003).
18 năm sau khi phê chuẩn Công ước, ngày 21/6 vừa qua, tại kỳ họp thứ ba,Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Lần đầu tiên, Luật Biển ViệtNam đã quy định đầy đủ chế độ pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền,quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam theo đúng nội dung củaCông ước. Luật Biển Việt Nam là cơ sở quan trọng cho việc thống nhất quản lý, sửdụng, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của Việt Nam. Qua việc thông quaLuật Biển Việt Nam, chúng ta đã làm cho thế giới thấy rõ Việt Nam là một thànhviên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, luôn luôn tuân thủ và tôn trọngluật pháp quốc tế, thể hiện quyết tâm của nhà Việt Nam phấn đấu vì hòa bình, ổnđịnh, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.
Trong những năm gần đây, tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp. Chủtrương của Đảng và Nhà Việt Nam là tôn trọng và tuân thủ Công ước, vận dụng Côngước để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trêncơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như tôn trọng lợiích của các nước liên quan. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài chovấn đề Biển Đông, các bên liên quan cần kiềm chế, không làm gì để tình hình phứctạp thêm, phù hợp với các quy định của Công ước.
Kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóacác mối quan hệ; đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo bằng sức mạnh tổng hợp;kiên trì giải quyết tranh chấp Biển Đông và các vấn đề nảy sinh trên biển bằngbiện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển1982, Việt Nam đã và đang thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của Côngước, tích cực vận dụng Công ước nhằm thiết lập một trật tự pháp lý công bằng,bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia./.